Dàn ý Phân tích khổ cuối bài thơ Tràng Giang

Thứ năm , 14/12/2017, 17:57 GMT+7
Dàn ý Phân tích khổ cuối bài thơ Tràng Giang để thấy màu sắc cổ điển và cái tôi hiện đại

+ Hai câu đầu: Màu sắc cổ điển hiện rõ ở các hình ảnh: mây, núi, cánh chim, bóng chiều.

+ Hình ảnh: "Lớp lớp mây cao đùn núi bạc" khiến người đọc liên tưởng tới hai câu thơ của Đỗ Phủ trong bài Tlui hứng:

Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng Tái thượng phong vân tiếp địa âm (Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm Mặt đất mây đùn cửa ải xa)

Lớp lớp mây trắng "đùn" lên, chồng lên nhau thành những núi mây. ánh hoàng hôn chiếu vào như dát bạc, núi mây trở thành núi bạc. Cảnh tượng thật hùng vĩ nhưng không vì thế mà nỗi sầu vợi đi. Những núi mày kia vẫn là những núi buồn khổng lồ.

+ Hình ảnh cánh chim lẻ loi, cô độc bay nghiêng trong ánh hoàng hôn đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ trong thơ cổ điển:

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi (Bà Huyện Thanh Quan)

Chim hôm thoi thót về rừng (Nguyễn Du)

Lạc hà dữ cô lộ té phi (Ráng chiều và cánh cò cùng bay) - (Vương Bột)

Tuy nhiên, cánh chim nhỏ trong thơ mới nói chung và trong khổ thơ này của Huy Cận nói riêng không chỉ có ý nghĩa báo hiệu hoàng hôn mà còn là biểu tượng cho cái tôi nhỏ nhoi, cô độc trước cuộc đời ảm đạm không có nổi một giờ vui. Cả bài thơ thiếu hẳn sự sống. Cánh chim nhỏ là dấu hiệu duy nhất của sự sống nhưng cái mầm sống ấy xuất hiện khi hoàng hôn đang tàn và nỗi sầu dậy khắp bầu trời. 

Cánh chim biểu hiện cho khát vọng, cho sự vươn tới, cho niềm ước mơ và sự háo hức,... Nhưng nỗi sầu dâng kín, "bóng chiều" đổ, cánh chim chao nghiêng như một tia nắng rót xuống. Hình ảnh ấy mới buồn thương và tội nghiệp biết bao!

+ Hai câu kết đưa người đọc trở về một tứ thơ Đường của Thôi Hiệu:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên hà giang thượng sử nhân sầu

(Hoàng hôn vể đó quê đâu tá?

Khói sóng trên sông não dạ người)

Tuy cách xa nhau hàng nghìn nãm, hai nhà thơ đều có cảm giác buồn nhớ quê khi đứng trưóe cảnh sông nước lúc chiều tà. Huy Cận đã đưa khói hoàng hôn và nỗi sầu xa xứ từ trong Đường thi cổ điển vào Tràng giang để gợi ra nhiều liên tưởng làm cho ý thơ thêm sâu, tình thơ thêm nặng và câu thơ thêm phần cổ kính.

Điểm khác biệt là Huy Cận không thấy khói, sóng mà vẫn rất buồn, rất nhớ. Nỗi buồn của Thôi Hiệu là nỗi buồn vì không thể hòa nhập cái "tiểu ngã" của mình vào cái "đại ngã" của vũ trụ để thoát tục lên tiên. Huy Cận, chàng thi sĩ thơ mới đi tìm đồng cảm, tri âm giữa cõi người nhưng chỉ gặp cô đơn, trống vắng. Nỗi buồn của Huy Cận là nỗi buồn đau của một cái tôi cá nhân luôn đối diện với chính nỗi cô đơn của lòng mình.

+ Lối hô ứng từ ngữ của khổ thơ này với khổ thơ đầu: các từ láy "lớp lớp", "dợn dợn" hô ứng với "điệp điệp", "song song" tạo nên cảm giác chồng chất tầng tầng lớp lớp những con sóng (cũng là những nỗi sầu). Cả bài thơ là sự cộng hưởng của ngôn từ để làm thành một khối sầu lớn mà trong lòng nó luôn có những con sóng vật vã, thao thức.

Nguồn: