Phân tích bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm

Thứ hai , 27/03/2017, 13:40 GMT+7
Phân tích bài thơ Bên kia sông Đuống. Đã có một thời, cứ nói đến Hoàng cầm là người ta nghĩ ngay tới Lá diêu bông, nghĩ tới một thời trai trẻ với nhiều hăm hở của nhà thơ mang chút phong tình. Nhưng nay tên tuổi Hoàng cầm không chỉ gắn với Lá diêu bông mà còn cả Bên kia sông Đuống - một tác phẩm chứa đựng nhiều cung bậc tâm trạng trước bao đổi thay của quê hương.
Hoàng Cầm đã viết Bên kia sông Đuống trong vẻn vẹn một đêm. Đó là một đêm thao thức không tài nào chợp mắt được. Trong đêm ấy đã có bao day dứt, bao trăn trở nhưng nỗi đau vẫn được nén lại để những câu thơ đầu được bật ra một cách dường như bình tĩnh:
 
Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về bên kia Sông Đuống.
 
Câu thơ mang giọng điệu an ủi, vỗ về nhưng không che dấu nổi một biên giới ngăn cách đôi bờ của con sông Đucíng. Và anh biết đâu trong đó còn có cả sự cách trở giữa “anh” - “em” nên “anh” mới buông lời an ủi, động viên em như thế. “Anh” an ủi “em” hay chính “anh” đang phải tự làm “ấm” lòng mình bởi những đổi thay bàng hoàng, sửng sốt của quê hương? Tuy thế âm điệu của hai câu thơ đầu vẫn đằm thắm thiết tha, trữ tình như một lời nhắn gửi tình yêu thương, trìu mến và đầy trách nhiệm.
 
Từ hiện thực đau thương, quá khứ dội về đẹp hơn bao giờ hết:
 
Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh.
 
Hình ảnh con sông quê hương yêu dấu hiện lên với dòng nước trôi lững lờ gợi sự yên ả của một vùng đất thanh bình, sông với những bản sắc, không ồn ã khoa trương. Màu nước lấp lánh gợi lên cái trong xanh đang cuộn trôi giữa hai bờ cát trắng mịn màng. Dáng điệu của dòng sông cũng được tác giả kể một cách tỉ mỉ.
 
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kĩ, dòng sông vẫn nằm đấy đắp đổi cho bao dời xanh tốt. Dáng nằm “nghiêng nghiêng” là dáng nằm đẹp, thơ mộng, nhưng vẫn ẩn chứa một nỗi niềm khắc khoải lo âu. Dường như con sông cũng mang tâm trạng trăn trở của một thời kỳ. Sông cũng biết thao thức, thắc thỏm không yên vì quê hương đang bị tàn phá.
 
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc.
 
Tác giả đang dựng lên một bức tranh tràn đầy sức sống của quê hương Kinh Bắc. Với nghệ thuật dùng từ láy tài tình “xanh xanh” “biêng biếc” quê hương của Hoàng cầm đã chở đầy màu xanh của sự sống, của những bàn tay con người chăm chỉ ruộng nương.
 
Với giọng thơ chậm rãi những câu thơ mở đầu đã làm cho người đọc hình dung về một dòng sông Đuỏng, về một miền quê xứ Kinh Bắc luôn sống trong yên ả, thanh bình, trong no cơm ấm áo, trong hạnh phúc vui vầy.
 
Từ một giọng thơ chậm rãi, nhẹ nhàng, tác giả bỗng chuyển hẳn sang một giọng thơ nhanh, lời thơ nghẹn ngào, xúc động.
 
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay.
 
Ớ vị trí tự do, nhà thơ nhìn về vùng tạm chiến, lòng miên man hoài niệm về một quá khứ đẹp đẽ, nay trở lại với thực tại, nỗi đau được nhân thêm một lần nữa nên càng đau đớn hơn. Khi quê nhà bị chiếm đóng, nhà thơ cảm thây như mất đi một phần máu thịt trong cơ thể mình. Giọng thơ chùng hẳn xuông trong một nỗi xót xa đến tột cùng. Điệp từ “sao” “sao” đâu phải dùng để hỏi mà thực chất là để khẳng định nỗi bàng hoàng, tê tái như không muốn tin vào sự thực. Cách so sánh lạ ở câu thơ tiếp theo sâu sắc đến nghẹn lòng.
 
 
“Rụng bàn tay” - nỗi đau trong tâm hồn đã chuyển thành nỗi đau của thể xác, chuyển thành cảm giác rụng rời của thịt da. Nỗi đau tinh thần đã lên đến cực điểm, cái mất mát lớn lao ấy không gì bù đắp nổi.
 
Tiếp sau hình ảnh của dòng sông, tác giả lại nhắc tới những giá trị tinh thần của một vùng quê giàu bản sắc dân tộc.
 
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trang giấy điêp.
 
“Hương côm” là đặc sản của Hà Nội, “Canh /au muống, cà dầm tương” là đặc sản của miền Trung lam lũ. Và đến Kinh Bắc có dễ mấy ai quên mùi hương thơm nồng của lúa nếp, đó là sản vật quê hương của những người dân chân lấm tay bùn.
 
Kinh Bắc không chỉ có “lúa nếp thơm nồng” mà còn là cái nôi của vấn hóa dân gian nổi tiếng với những bức tranh Đông Hồ giàu chất dân tộc. Cái màu dân tộc ấy “sáng hừng trên giấy điệp”, sáng bừng lên cả trong lòng người dân Kinh Bắc một nỗi niềm kiêu hãnh, tự hào.
 
Hình ảnh quê hương qua hoài niệm của Hoàng cầm có cả đời sông vật chất, có cả đời sông tinh thần. Ông nhắc đến những sản vật với tâm trạng đầy tự hào xúc động.
Bức tranh quê hương sinh động, trù phú được khép lại. Bài thơ mở ra một cảnh tượng đối lập vối sự yên ả, thanh bình.
 
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngọn lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu.
 
Cái mốc thời gian để phân định giữa quá khứ - hiện tại, giữa hạnh phúc - khổ dau, giữa sự sông - cái chết đó là từ cái “ngày khủng khiếp” ấy - cái ngày mà bọn giặc đặt gót giày đinh lên vùng đất vốn đã bao đời nay vẫn bình yên, trầm mặc của tác giả. Kể từ ngày ấy đã không còn dòng trôi lững lờ của con sông Đuống êm đềm xanh trong. Sau cái “ngày khủng khiếp” ấy, câu thơ của Hoàng cầm bỗng trở nên tan tác, hoảng loạn như dồn nén một nỗi căm phẫn đến cực cùng. Giọng thơ vội vã, câu thơ ngắn - dài đan xen mà ngắn là chủ yếu.
 
Nỗi căm phẫn được đổ dồn lên hai câu thơ:
 
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu.
 
“Chó ngộ một đàn” là hình ảnh ẩn dụ, tác giả mượn để ám chỉ kẻ thù. Câu thơ rất ấn tượng, lối so sánh vừa đặc sắc lại vừa rất dân dã đã lột tả được cái hung hãn; điên cuồng, man dại của kẻ xâm lược, đồng thời bộc lộ lòng căm hờn, sự khinh bỉ đối với bọn chúng. Bản chất khát máu của kẻ thù được nói tới qua một hình ảnh vừa thực vừa tượng trưng “lưỡi dài lê sắc máu”. Câu thơ toát lên mùi tanh tưởi, sự tàn ác của kẻ thù một cách ghê ghớm.
 
Giặc Pháp đã gây bao tội ác tày trời, gót chân của bọn chúng đi đến đâu, quê hương bị tàn phá, dày xéo đến đấy. Chúng đã dẫm đạp lên cả những giá trị văn hóa tinh thần. Quê hương trở nên chia lìa, tan tác bởi sự tàn ác dã man của chúng len lõi vào từng hang cùng ngõ hẻm.
 
Kiệt cùng ngõ thẳm hờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngã
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu.
 
Một lần nữa tác giả nhắc đến tranh Đông Hồ, nhưng lần này nói rõ hơn cụ thể hơn lần trước. Cái cụ thể ấy đã cho những đề tài phong phú về hội họa truyền thông đần gian. Những bức tranh được tác giả nhắc đến đều tượng trưng cho cuộc sông đầm ấm, hạnh phúc, trong đó có tình yêu thương của mẹ dành cho con, có hạnh phúc của đôi lứa... tất cả đều chứa đầy tính nhân văn cao cả. Thế nhưng từ ngày quê hương chìm trong khói lửa, bao giá trị nhân văn dã bị chà đạp, cuộc sông hạnh phúc sum vầy bỗng chốc trở nên chia lìa tan tác.
 
Những câu thơ tiếp theo vẫn là hoài niệm về một quá khứ đẹp đẽ, dường như Hoàng Cầm muốn nhắc mãi đến quá khứ để hiểu hơn về hiện tại. Nói tới quá khứ viên mãn để biết được hiện tại đen tôi. Quá khứ ngồn ngộn sự sông, hiện tại mâ't mát, đau thương.
 
Ai về bên kia Sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đảm
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu.
 
Nhà thơ cảm thấy mình như lạc di giữa quê hương vốn vô cùng thân yêu, quen thuộc. Nỗi đau không nén nỗi đã bật lên thành câu hỏi đau nghẹn ngào. Tác giả ngậm ngùi hoài vọng không dứt về một vùng quê đằ có một chiều sâu lịch sử “mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên”. Đó là một xứ sở có nhiều hội hè, đình đám mang nét đẹp văn hóa cổ kính, trầm mặc, phảng phất không khí huyền thoại, một miền quê thơ mộng thanh bình.
 
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu về đâu.
 
Mỗi một gương mặt đều mang một vẻ đẹp riêng -biệt. Đó chính là vẻ đẹp phong phú trong mỗi tâm hồn của con người vùng Kinh Bắc. Những con người ấy như những nhân vật vừa bước ra từ những câu chuyện cổ tích xa xưa đẹp đẽ vậy mà giờ đây không còn thấy bóng dáng của họ.
 
Hoàng Cầm đặc biệt tả về vẻ đẹp của những cô gái Kinh Bắc xinh đẹp, duyên dáng, đảm đang. Nhưng ấn tượng nhất đối với nhà thơ vẫn là khuôn mặt rạng ngời của những cô hàng xén.
 
Ai về bên kia sông Đuống *
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng.
 
Hình ảnh người con gái Kinh Bắc hiện lên với một vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng, tình tứ, để lộ hàm răng đen nhức đậm bản sắc dân tộc. vẻ đẹp ấy hòa vào cái nắng mùa thu êm dịu của đất trời đã tạo sức cuốn hút kì lạ.
 
Kinh Bắc còn là vùng quê có những phiên chợ tấp nập, đông vui Chợ Hồ chợ Sủi người đua chen Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối Những nàng dệt sợi Đi bán lụa màu Những người thợ nhuộm Đồng Tỉnh Huê cầu Bây giờ đi đâu về đâu.
 
Kinh Bắc đã hiện lên với làng tranh Đông Hồ, với tiếng trống hội làng, với những làn điệu dân ca mượt mà tinh tế, với điệu cười duyên dáng của người thiếu nữ, với cảnh tấp nập mua bán đông vui nay không còn nữa. Nỗi đau ấy cứ bật lên rưng rức thành những câu hỏi quặn thắt lòng người.
 
... Bây giờ tan tác về đâu ... Bây giờ đi đâu về đâu ... Bây giờ đi đâu về đâu.
 
Tác giả đau đớn bàng hoàng trước những mất mát quá lớn lao của quê hương. Câu thơ được điệp lại ba lần tạo nên cái dấm dẳng cái day dứt khôn nguôi, khơi dậy những tình cảm xót xa, căm hận trước tội ác tày trời của quân xâm lược.
 
Đằng sau những nỗi đau thương ngậm ngùi là hình ảnh của người mẹ chịu thương chịu khó. Chiến tranh tàn phá đã hằn lên nỗi nhọc nhằn, cay đắng, cực khổ trên đôi vai của biết bao người mẹ già nua.
 
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô mấy lọ phẩm hồng
Vài thép giấy đầm hoen sương sớm
Chợt lủ quỹ mắt xanh trừng trợn
Khua giày đinh đạp gãy quán gày teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Là đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông
 
Nghệ thuật đối lập đã được tác giả sử dụng hết sức tài tình. Hình ảnh người mẹ được đặt trong bối cảnh của một buổi chiều mùa đông xám lạnh với gánh hàng rong bước thấp bước cao tương phản với những hành động vô cùng tàn ác của bọn giặc. Chúng đi đâu là gây tội tới đó, đến nơi nào là đầu rơi máu chảy tới đó. Hoàng cầm đã gọi chúng là “lũ quỹ”. Hình ảnh của chúng gợi lên sự tàn khốc của chiến tranh. Bóng dáng của người mẹ gợi lên nỗi cơ cực trước cuộc sông nhọc nhằn của thân cò lặn lội.
Chiến tranh gõ cửa từng nhà, không buông tha cho những người mẹ tóc đã bạc phơ và cả những đứa trẻ miệng còn thơm mùi sữa.
 
Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu ríu chuôi gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây, tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Bóng giặc dày vò những nét môi xinh.
 
Những đứa trẻ với bản tính ngây thơ, hồn nhiên, chúng chưa hiểu hết được bản chất của chiến tranh là gì. Chúng ngộ nghĩnh trong cách ăn (Ngày tranh nhau một bát cháo ngô), ngộ nghĩnh trong cách chơi (Lấy mẹt quây tròn tưởng làm tổ ấm) và ngộ nghĩnh cả trong cách tránh đạn (Đêm líu ríu chui gầỉn giường tránh đạn). Ban ngày chúng vui đùa tinh nghịch, thế nhưng đem đến bóng của bầy quỹ dữ, của những tên giặc bạo tàn hung ác vẫn đi vào trong những giấc mơ không bình an, thắc thỏm của chúng. Đêm đem vẫn có những cái giật mình vì khủng khiếp, sợ hãi.
 
Hoàng Cầm một lần nữa đặt hai hình ảnh trong thế đối lập: bóng giặc - nét môi xinh để thấy được đó là đỉnh điểm của nỗi đau, cũng chỉ là đỉnh điểm của sự hung bạo, độc ác. Nỗi đau ấy không chỉ là sự dặn lòng, không chỉ là sự nung nấu mà đã chuyển thành hành động.
 
Đã có đất này chép tội
Chúng ta không biết nguôi hờn.
 
Cảm xúc đau đớn, nhớ tiếc về quá khứ được dồn nén lại, nhường chỗ cho một cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa.
 
Đêm buông xuống dòng sông Đuống
- Con là ai? Con ở đâu về?
Hé một cánh bếp
- Con vào đây bốn bức tường che
Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
 
Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng Ngậm ngùi tóc trắng đang thẩm kể Nhữìig chuyện muôn đời không nói năng.
 
Tình nghĩa quân dân được bắt đầu bằng tình nghĩa giữa mẹ và con. Đó là một tình cảm thiêng liêng sâu nặng, mang cả sự che chở, đùm bọc của những con người mà Tố Hữu từng nói:
 
Sống trong cát chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời.
 
ở đây, Hoàng cầm đã ví người mẹ như ánh trăng trong sáng dịu hiền. Đó là vẻ đẹp đôn hậu của người phụ nữ Việt Nam. vẻ đẹp ấy chứa một trái tim, một tâm hồn luôn biết hi sinh, luôn biết sổng vì người khác, biết hiến dâng cho cuộc đời tranh đâu.
 
Sau cái đêm người con trở về, bộ đội của chúng ta đã ghi bao chiến công vang dội khiến kẻ thù mất hồn bạt vía.
 
Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống
Bộ đội bên sông đã trở về
Con bắt đầu xuất kích
Trại giặt bắt đầu run trong sương 
Dao lóe giữa chợ
Gậy lùa cuối thôn
Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn
Ăn không ngon
Ngủ không yên
Đứng không vững
Chúng mày phát điên
Quay cuồng như xéo trển đống lửa
Mà cánh đồng ta còn chan chứa
Bao nhiêu nắng đẹp của mùa xuân.
 
Những hành động hung hăng tàn bạo của giặc đã bị chặn dứng lại trước màu chín vàng của lúa, màu nắng đẹp của mùa xuân. Chiến thắng của quân và dân ta là chiến thắng của những con người chính nghĩa. Dù cho trong niềm vui chiến thắng hôm nay đã mang theo bao nỗi buồn mất mát. Có những người con lớn lên không biết mặt cha, có những người vợ đợi chờ mòn mỏi cả cuộc đời mà chồng vẫn không trở về, có những bà mẹ vì khóc thương con mà phải mù lòa, nhưng những mất mát ấy rồi sẽ được bù đắp cho những ai biết sông, biết hiến dâng cho lí tưởng cao đẹp. Vỉ nắng sắp lên rồi Chân trời đã tỏ Sông Đuống cuồn cuộn trôi Để nó cuốn phăng ra hể Bao nhiêu đồn giặc tơi bời Bao nhiêu nước mắt Bao nhiêu mồ hôi Bao nhiêu bóng tối Bao nhiêu nỗi đời...
 
Kết thúc bài thơ là một hình ảnh thật tươi sáng.
 
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại gặp em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trẩy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.
 
Những câu thơ vẽ lên một tương lai đầy hứa hẹn về một cuộc sum vầy sắp tới. Mở đầu bài thơ là một lời an ủi, nay lời an ủi ấy trở thành một lời hẹn ước đằm thắm, thiết tha. Lời an ủi ấy còn chứa cả niềm đau, cả nỗi buồn. Lời hẹn ước lại chở đầy niềm tin và nỗi sung sướng. Nhưng cho dù buồn đau hay vui sướng thì “anh” vẫn không quên “em”, tình yêu của lứa đôi luôn bừng nở dẫu bất cứ trong hoàn cảnh nào. Khi chiến tarnh chúng ta biết xa nhau cho Tổ quốc, khi hòa bình chúng ta lại tìm nhau. Và phải chăng đó chính là bức thông điệp mà nhà thơ muốn gởi gắm với chúng ta về một tương lai rạng ngời của đất nước. Tương lai ấy gắn liền với hạnh phúc của từng lứa đôi. Tương lai ấy những người yêu thương nhau không còn phải xa cách nữa.
 
Như vậy, bài thơ đã kết thúc trong một âm hưởng lạc quan của ngày chiến thắng đang đón chờ phía trước. Bèn kia sông Đuông đã ghi lại tâm sự của nhà thơ đối với quê hương Kinh Bắc khi nghe tin giặc Pháp bắn phá một cách sâu sắc nhất, đầy đủ nhất. Bài thơ đã làm xúc động lòng người bởi tấm lòng chân thật, gắn bó thiết tha với quê hương của tác giả.
Nguồn:
bên kia sông đuống