Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Thứ ba , 28/03/2017, 09:28 GMT+7
Phân tích bài thơ Đất nước. Có ai đã từng đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm mà không một lần rưng rưng xúc động bởi lời ru trên nương ngọt ngào của người mẹ Tà Ôi, không khắc khoải nhớ thương tìm về cội nguồn của dân tộc, đất nước.
Một đất nước đã đi vào ca dao, đi vào huyền thoại. Đất nước ây mang dáng hình của mỗi ngọn núi non sông, của cái sàng cái mẹt, của muối mặn, gừng cay, của tình yêu lứa đôi hò hẹn, của từng lớp người già trẻ gái trai đua nhau ra tiền tuyến...
 
Đất nước ấy là đất nước của nhân dân
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
 
Đất nước có trong những cái “Ngày xửa ngày xưa”... mẹ thường hay kể.
 
Nếu như Nguyễn Đình Thi nhớ về đất nước bằng hình ảnh đoàn quân ra đi giữa mùa thu nắng lá đượm buồn thì Nguyễn Khoa Điềm lại tìm về với những câu chuyện cổ tích diệu kì, hấp dẫn, ấm áp hơi thở của con người, cuộc sống.
 
Đất nước được tác giả gợi lên không phải bằng những cái to lớn, kì vĩ, trang trọng mà bằng những hình tượng nhỏ bé, gần gũi, bình dị, cụ thể. Nguyễn Khoa Điềm đã xây .dựng nên hình tượng đất nước bằng cách sử dụng rộng rãi các chất liệu văn hóa dân gian. Mỗi chât liệu ấy không phải là những cái gì cao sang xa lạ mà nó có mặt trong mỗi gia đình Việt Nam, hóa thân vào mỗi trái tim con người.
 
Câu chuyện cổ tích được bắt đầu bằng những hình ảnh mộc mạc, đơn sơ mà gợi cảm vô cùng.
 
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó...
 
Đất Nước thâm vào từng miếng trầu, hạt muôi, củ gừng, thấm cả vào từng cái kèo, cái cột, gốc lúa, bờ tre, sợi tóc, đất nước là bà, là mẹ. Tác giả đã tìm nơi khởi đầu của đất nước trong đời sông hàng ngày của nhân dân, cho nên yêu đất nước trước hết là yêu những con người và những sự vật gần gũi, gắn bó quanh ta. Đất nước bắt đầu ớ chính cái nơi mà sự sông của nhân dân bắt đầu. Hay nói cách khác chính cuộc sông của nhân dân đã làm nên bộ mặt đất nước.
 
Đoạn thơ mở đầu với những hình ảnh mang đậm chất liệu văn hóa dân gian đã đánh thức trong ta những kí ức đẹp đẽ về một thế giới diệu kì, từng bao đời gắn liền với dòng trôi của lịch sử. Thế giới của những truyền thuyết và cổ tích xa xưa với truyện Trầu cau, Thánh Gióng với những câu ca dao nghĩa tình sâu nặng. Thế giới ấy còn gắn liền với sản vật của nền văn minh lúa nước từ ngàn xưa. Vậy là đất nước đã có từ lâu lắm rồi, lâu đến nỗi mỗi người dân Việt Nam khi lớn lên đã thấy trong máu thịt mình có dáng hình đất nước.
 
Đất Nước là nơi bắt đầu của tình yêu
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.
 
Không phải ngẫu nhiên mà sau một lời giới thiệu chung về đất nước, Nguyễn Khoa Điềm lại đi vào hình ảnh “anh” và “em”. Cuộc sông được bắt đầu từ tình yêu. Tình yêu đó dã dệt nên đất nước, và từ đây mọi thứ mới ra đời. Xưa kia cha mẹ thương nhau bằng nghĩa nặng tình sâu thì nay “anh” và “em” cũng đến với nhau bằng những buổi hẹn hò đầu làng, trước ngõ với những kỷ niệm thiêng liêng dịu ngọt. Tình yêu ấy trong mỗi thế hệ lại được bồi đắp thêm nhiều sắc màu thi vị. Tình yêu sâu sắc hơn theo thời gian, đất nước cũng lớn dần theo năm tháng. “Anh” và “em” vốn dĩ là hai người xa lạ, gặp nhau rồi yêu nhau, rồi kết hợp thành một. Ớ đây, Nguyễn Khoa Điềm cũng tách đất nước ra hai yếu tô' sau đó tạo nên sự hợp thành giữa “đất” và “nước” lại với nhau trong sự gắn bó bền chặt, thông nhất, trọn vẹn.
 
Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc.
Nước là nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi.
 
Đất nước được trải rộng trong không gian của núi rừng, sông biển. Đất nước đổ về giữa dòng chảy lịch sử, thời gian.
 
Thời gian đằng đẵng
Không gian mênh mông
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ
Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Để ra đồng bào ta trong bọc trứng.
 
Hồn thơ Nguyễn Khoa Điềm tìm về tận cội nguồn của đất nước. Một đất nước có chiều dài lịch sử đằng đẵng bôn ngàn năm vất vả gian lao nhưng anh hùng bất khuât, vĩ đại. Một đất nước có chiều sâu văn hóa mang giá trị tinh thần to lớn và đậm đà bản sắc dân tộc. Nhà thơ đã bắt gặp hình ảnh của nhân dân trong truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ với năm mươi người lên rừng, năm mươi người xuống biển, dùng bàn tay và sức lao động của mình đê tạo lập nên đât nước. Đây chính là hình ảnh của nhân dân trong buổi đầu khai thiên lập địa.
 
Đất nước trường tồn trong đời sông nhân dân, trường tồn qua nhiều thế hệ.
 
Những ai đã khuất
Những ai hây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau.
 
 
Giọng thơ đầy chất suy tưởng như một lời nhắn nhủ, nhắc nhở cho muôn vạn lớp người. Cứ thê hệ này tới thê hệ khác đều mang trong mình một trách nhiệm lớn lao, đều có nhiệm vụ phải bồi đắp, vun xới cho truyền thông lịch sử, cho cuộc sông tương lai mỗi ngày một sáng sủa hơn, nhiều ý nghĩa hơn. Những người con của đất nước hôm nay muôn thực hiện được nhiệm vụ cao cả ấy thì trước hết phải biết nhớ về cội nguồn của mình.
 
Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.
 
Ngày giỗ Tổ chính là ngày mà nhân dân ta tưởng nhớ về các vua Hùng đã có công dựng nước. Điều đó đã trở thành một phong tục tập quán, một truyền thông văn hóa của dân tộc Việt Nam. Có biết bao điều mà tác giả muôn gửi gắm trong cái “cúi đầu”. “Cúi đẩu” để hoài niệm để biết ơn. Thế nhưng chỉ hoài niệm và biết ơn thôi thì chưa đủ, mà trong cái “cúi đầu” ấy còn đặt lên một trách nhiệm, nghĩa vụ cho mỗi người dân đối với Tổ quốc. Các vị vua Hùng đã dựng lên một đất nước tươi đẹp, con cháu của họ phải giữ lấy giang sơn gấm vóc ấy và phải làm cho nó ngày càng vững chãi, giàu có, lộng lẫy hơn, nhiều bản sắc hơn.
 
Với Nguyễn Khoa Điềm, đất nước là của nhân dân nên đất nước được cảm nhận trong sự hóa thân vào mỗi con người, mỗi lứa đôi.
 
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn to lớn.
Mỗi cá nhân sông trong đất nước đều được thừa hưởng những giá trị văn hóa tinh thần, vật chất của dân tộc, của nhân dân, của cộng đồng để lại. Những giá trị ấy thấm sâu vào máu thịt của con người, trở thành một phần quan trọng trong cuộc sông vì vậy mà phải biết cẩn thận gìn giữ. Hình ảnh của “anh” và “em” được nhắc lại một lần nữa với đầy dụng ý nghệ thuật. “Anh” và “em” là biểu tượng của tình yêu lứa đôi, của sức xuân, của tuổi trẻ là bộ mặt, là niềm hi vọng của đất nước hiện tại, là những người rồi đây sẽ tạo ra thế hệ của tương lai. Đất nước ngày mai đi tới đâu là tùy thuộc vào “anh” và “em”, tùy thuộc vào lớp trẻ hôm nay.
 
Đất nước được cảm nhận từ sự yêu thương, hòa hợp trong mỗi lứa đôi.
 
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thám
Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, gia đình ấm êm hạnh phúc, đất nước cũng “hài hòa nồng thắm”.
Mặt khác, đất nước được cảm nhận bằng tinh thần đoàn kết.
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn to lớn.
 
Như vậy, đất nước được thống nhất giữa cái nhỏ bé đến cái to lớn, giữa cái riêng tới cái chung và giữa mỗi con người với tất cả mọi người. Sự cảm nhận này đã tạo nên một ý thơ mới mẻ: sự sông của mỗi con người, mỗi cá nhân, mỗi lứa đôi cũng là sự sông của đất nước.
 
Nhà thơ đã cảm nhận về đất nước trong chiều dài của thời gian lịch sử. Đất nước ấy được khám phá ở ba bình diện: quá khứ, hiện tại và tương lai.
 
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
 
Câu thơ vẽ lên một viễn cảnh về tương lai của đất nước đầy hứa hẹn, thể hiện niềm tin của những con người hôm nay đối với thế hệ mai sau. Ngày sau đất nước sẽ to lớn, vẹn tròn, đẹp đẽ, lãng mạn, mơ mộng. Tứ thơ là sự phát triển ý thức dân tộc cao độ, là biểu hiện của lòng yêu nước sâu sắc.
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời. 
Điệp từ “phải biết”, “phải biết” như một lời nhắn nhủ đầy trách nhiệm, đã khắc sâu vào tâm khảm mọi người. Giọng điệu mang tính chất mệnh lệnh mà vẫn có sức lay động, cảm hóa lòng người đến lạ kì bởi tiếng nói ấy đâu chỉ xuất phát từ chính trái tim của tác giả, nó còn là tâm nguyện trong mỗi người dân Việt Nam. Khi đất nước cần dù có phải hi sinh cả bản thân, tính mạng cũng vui vẻ, tình nguyện. Ý thức ấy, tình yêu ấy đã được hun đúc tự bao đời,
 
Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi con sông.
(Chế Lan Viên)
 
Chế Lan Viên đã nói thay tiếng nói của người dân đất Việt đối với Tổ quốc mình. Nguyễn Khoa Điềm một lần nữa lại nhắc nhở chúng ta phải biết “hóa thân cho dáng hình xứ sở” - mỗi con người không chỉ biết hi sinh, xả thân trong chiến đấu mà còn phải biết xây dựng cuộc sông trong thời bình.
 
Trên bình diện không gian, lãnh thổ, địa lí đất nước còn được tác giả cảm nhận một cách sâu sắc với những phát hiện mới mẻ nhằm khẳng định tư tưởng đất nước của nhân dân.
 
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho
Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên.
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh.
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm.
 
Những câu thơ đã vẽ nên một bức tranh đất nước với đầy đủ đường nét màu sắc chân thực về cuộc sống, về cảnh quan thiên nhiên kì thú. Đất Nước trong thơ Nguyễn Đình Thi rộng lốn, mênh mông với những cánh đồng, những ngả đường, những dòng sông thì nay trong thơ Nguyễn Khoa Điềm được gợi lên cụ thể hơn, chi tiết hơn bằng những tên gọi đã gắn liền bao đời trong cuộc sông nhân dân, trong lịch sử dân tộc. Sự mòn mỏi của những người vợ chờ chồng qua các cuộc chiến tranh làm cho ta liên tưởng đến “núi vọng phu”. Cặp vợ chồng yêu nhau làm ta liên tưởng đến “hòn Trống Mái”. Người học trò nghèo làm ta cảm phục trước “núi Bút non Nghiên”. Những danh lam thắng cảnh ở vịnh Hạ Long qua cảm nhận, qua cách nhìn của con người thì đó là những con cóc, con gà quê hương gần gũi, thân thuộc. Không có sự góp mặt của những con vật nhỏ bé ấy thắng cảnh Hạ Long mất đi bao ý nghĩa. Ngay cả những truyền thuyết thời vua Hùng dựng nước đã giúp chúng ta cảm nhận được sự hùng vĩ của vùng đồi núi quanh đền Hùng. Hình ảnh ao hồ, đầm lầy gợi nhớ về bước chân huyền thoại diệu kì của Thánh Gióng - người anh hùng từng làm cho hình tượng cây tre trở thành thế đứng dân tộc. Và có biết bao con người đã góp tên tuổi mình hòa vào với núi sông như Ông Đốc, ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm. Với nhà thơ, tất cả đâu đâu cũng là đất nước.
 
Và ở đâu trên ruộng đồng gò bãi. Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha.
 
Đất nước có mặt trong bất cứ hình ảnh, sự vật nào nên nhà thơ không thể kể hết được những gì đã tạo dựng nên đất nước. Đất nước tồn tại giữa cỏ cây, ruộng đồng, hoa lá, gò bãi. Và trong mỗi hình ảnh ấy lại mang dáng hình, ao ước, lối sống của bao đời để lại. Như vậy, từ những chi tiết, sự vật cụ thể, riêng lẻ, tác giả đã đi đến khái quát sâu sắc sự hòa hợp của bóng hình nhân dân trong bóng hình đất nước.
 
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta...
 
Lịch sử đất nước Việt Nam đã trải dài bô'n ngàn năm. Trong khoảng thời gian đằng đẵng ấy đã có biết bao vất vả, đau thương cũng có không ít hương thơm trái ngọt. Tất cả những điều ấy đều hóa thân vào dáng hình của đất nước. Đất nước ây qua cái nhìn của nhà thơ ngàv một tiến về phía trước. Cảm nhận này đã gặp gỡ với tâm hồn của Thanh Hải trong Mùa xuân nho nhỏ.
 
Đất Nước bốn nghìn năm Vất vả và gian lao
Đất Nước như vì sao Cứ đi lên phía trước.
 
Đoạn thơ tiêp theo tác giả gợi lên sức sông hào hùng của cả một dân tộc bao đời mà vẫn với một giọng giản dị, mộc mạc không hề chao chát, đao to búa lớn.
 
Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
Vào bốn nghìn năm Đất Nước 
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà củng đánh
Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ.
 
Sức sống của dân tộc được gợi lên bằng một giọng điệu tâm tình của lứa đôi yêu nhau. Người con trai như đang nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của người yêu bước vào từng trang, từng trang một của lịch sử đất nước. Trong trang lịch sử ấy không chỉ có những chiến công hiển hách ở cuộc đời chiến đấu, mà còn có cả những dòng chảy lặng là của cuộc sống đời thường. Đoạn thơ nhắc ta nhớ tới hình ảnh của những người nghĩa sĩ trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu. Họ là những con người cả cuộc đời chỉ biết “cui cút làm ăn toan lo nghèo khó” thế nhưng khi đôi mặt với kẻ thù, họ lại dữ tợn vô cùng. Đây chính là sự phát triển ý thức tự chủ trong con người họ. Ý thức đó như một dòng máu thắm đỏ chảy từ đời này qua đời khác trong mỗi người dân Việt Nam. Khi Tổ quốc kêu gọi thì kể cả những người phụ nữ năm này qua tháng nọ chỉ biết lo cho chồng, cho con, cho cuộc sông riêng tư tất cả của gia đình cũng vùng lên đánh giặc, cũng trở thành anh hùng. Chính họ đã góp phần làm nên đất nước. Có biết bao con người đã ngã xuống không danh tiếng, tuổi tên. Sự hi sinh thầm lặng ấy đã ươm chồi cho một đâ't nước đẹp đẽ ngày mai. Một đất nước từng có những người con hiến dâng cả cuộc đời, cả tuổi thanh xuân của mình không hối tiếc.
 
Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và đã chết
Giản dị và bỉnh tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.
 
Đất nước đã được tạo dựng nên từ những bàn tay, khôi óc và xương máu của những con người bình dị. Chính họ đã dệt nên bao trang sử chói ngời trong suốt bôn mươi thế kỷ qua. Trong khoảng thời gian đó có biết bao lớp người đã ngã xuống một cách thầm lặng. Họ hi sinh bản thân, tính mạng của mình như một lẽ tự nhiên. Họ đã sông một cuộc đời giản dị và chết một cái chết bình tâm, thanh thản. Mỗi người ngã xuông như góp thêm một viên gạch cho công trình vĩ đại - công trình đất nước. Công trình ấy được dựng lên qua bao thế hệ tiếp nối.
 
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
IỈỌ truyền lúa qua nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái.
 
Tất cả những công việc: trồng lúa, nhóm lửa, tập nói, đắp đập, be bờ tưởng như quá nhẹ nhàng đơn giản đó đă được tổ tiên, cha ồng đúc rút bao đời bằng sự gian lao vất vả, bằng mồ hôi xương máu của mình mới có được. Và những kinh nghiệm ấy cứ truyền từ đời này qua đời khác, kể cả việc tập nói tưỏng như là một bản năng tự nhiên của loài người cũng cần phải bày dạy. Vì thế cho nên không phải ngẫu nhiên mà trong truyền thuyết Thánh Gióng, chàng trai làng Phù Đổng cất tiếng nói đầu tiên chính là tiếng nói yêu nước, trong Mẹ vắng nhà những đứa trẻ chưa biết chữ cũng cố rướn giọng mà đọc cho bằng được “Tìm mỹ mà đánh”, “Tìm ngụy mà diệt”.
 
Những câu thơ là một lời nhắn nhủ về sự biết ơn sâu sắc đôi với những con người đã tạo ra “dòng nước” cho chúng ta ngụp lặn hôm nay. Những con người ấy còn truyền cho thế hệ mai sau một ý chí kiên định, một thế đứng hiên ngang chủ động tiến công.
 
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm Có nội thù thì vùng lẽn đánh bại.
Tư tưởng “đất nước của nhân dân” được đẩy lên tới đỉnh cao của sự cảm nhận, của lòng yêu mến và tự hào hãnh diện.
Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân
Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre đợi ngày thành gậy.
Đi trả thù mà không sợ dài lâu.
 
Cảm xúc của tác giả tuôn trào trước vẻ đẹp của một đất nước mang đầy tính huyền thoại. Nhà thơ tìm về ngọn nguồn đẹp đẽ, phong phú của văn hóa văn học dân gian mà tiêu biểu là ca dao, là những câu chuyện cổ tích ngọt ngào thú vị chở đầy ân nghĩa, ước mơ. vẻ đẹp tâm hồn, cốt cách con người đều được soi rọi trong ca dao thần thoại, trong hình tượng đâ't nước thiêng liêng.
 
Từ những câu hát cổ tích của bà, của mẹ đã nhen nhóm trong anh, trong em không chỉ có tình cảm riêng tư mà còn có cả tình cảm giống nòi, tình yêu Tổ quốc, lòng biết ơn và ý chí phục thù. Ý chí ấy dược ấp ủ, nuôi dưỡng từ lúc mới lọt lòng nhưng để trả thù nhà, nợ nước, để giữ gìn giá trị, bản sắc dân tộc thì có sợ chi năm tháng dài lâu.
Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt Lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi.
 
Khổ thơ kết được khép lại bằng một giọng điệu dầy xúc cảm và suy tưởng. Đất nước được gợi lên từ những dòng sông bao la bát ngát, những câu hát vang vọng núi sông. Đó là kết tinh vẻ đẹp của đất nước Việt Nam - đất nước ca dao thần thoại. Và đâ'y cũng chính là tâm hồn giàu chất thơ của dân tộc đã hòa quyện, soi bóng cùng vẻ đẹp sông núi. Câu thơ cuối thấm đẫm chất lãng mạn, bay bổng đã thể hiện cảm xúc lắng đọng, mãnh liệt của tác giả về đất nước. Với điệp ngữ “trăm màu - trăm dáng” tạo nên một không gian rộng lớn, mênh mông, không có giới hạn. vẫn còn biết bao điều chưa nói hết đành gửi lại trong dáng hình đất nước thân yêu.
 
Đất nước trong đoạn trích đã được Nguyễn Khoa Điềm khám phá ở cả ba bình diện: lịch sử, địa lí và văn hóa. Ba bình diện này được thể hiện trong sự gắn bó thông nhất để làm nổi bật tư tưởng cốt lõi “đất nước của nhân dân”. “Đất nước của nhân dân” đây chính là hệ quy chiếu mọi cảm xúc và suy tưởng, nhờ đó mà tác giả đã có những phát hiện mới mẻ, đặc sắc làm sâu sắc thêm, phong phú thêm nhận thức về đất nước. Đoạn thơ mang đậm màu sắc chính luận song vẫn dạt dào cảm xúc có sức lay động lòng người.
Nguồn: