Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm ngắn gọn hay nhất - Học Tốt Ngữ Văn

Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm ngắn gọn hay nhất

Thứ sáu , 13/07/2018, 10:46 GMT+7
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) là người có học vân uyên thâm. Ông là nhà thơ lớn của dân tộc. Ông để lại cho dân tộc hai tập thơ chữ Hán và chữ Nôm đó là: Bạch Vân âm thi tập (chữ Hán khoảng 700 bài) và Bạch vân quốc ngữ thi (chữ Nôm khoảng 170 bài).

Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm chất triết lí, giáo huân, ngợi ca chí của kẻ si, thú thanh nhàn, đổng thời phê phán những điều xâu xa trong xã hội. Nhàn là bài thơ Nôm trích từ Bạch vân quốc ngữ thi.

Một mai, một cuốn, một cần câu,

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

Người khôn, người đến chốn lao xao.

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Rượu đến cội cây, ta sẽ uống,

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

Nguyễn Binh Khiêm từng đỗ Trạng nguyên, từng làm quan to đến chức Trình quốc công. Vậy mà khi rời xa chốn quan trường, ông về sống giữa thôn quê không khác nào một người nông dân thực sự:

Một mai, một cuốc, một cần câu,

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

Hàng loạt danh từ mai, cuốc, cần câu để chi những dụng cụ của người nông dân. Mai, cuốc dùng đế đào, xới đất, cần câu dùng để câu cá. Số từ một và phép liệt kể như bày ra sẵn sàng mọi vật dụng cần thiết cho công việc nhà nông. Cụ trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm về sống giữa thôn quê như một lão nông tri điền. Nhịp thơ 2/2/3 nhịp nhàng, thong thà nhu phong thái ung dung, nhàn tản của tác giả khi thoát ra khỏi vòng danh lợi. Cứ thê mà thơ thẩn, thoai mái, thảnh thơi mặc cho người đời đua chen vui thú nào đi nữa. Lời thơ nêu rõ một lôi sống kiên định, vững vàng mà không một cám dỗ nào có thể lay chuyên được. Hai câu đầu cho thấy phong thái ung dung thanh thơi, vô sự trong lòng của cụ Trạng khi về quê nhà vui thú với điền viên.

Phong thái bàn lĩnh là thế bởi nhà thơ xác định cho mình quan niệm sống khác người đời:

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

Người khôn, người đến chon lao xao.

Nghệ thuật đối lập ta với người, dại với khôn, nơi vắng vè với chon lao xao nhân mạnh sự khác biệt. Tự nhận mình là dại khi tìm về nơi thanh tĩnh, nơi vắng người tránh xa những bon chen, tranh giành, tước đoạt. Đó chính là nơi yên tĩnh của thiên nhiên, nơi thu thái của tâm hồn, nơi đó con người được sống tự do, tự tại. Còn chốn lao xao là chôn đông người, chốn mưu cầu, tranh đoạt. Đó là chôn quan trường vốn nhiều thú đoạn, lắm hiếm nguy. Dại mà tìm đến chôn tự do, còn khôn lại lao vào nơi ràng buộc. Thật ra dại ở đây mới chính là khôn, còn khôn thật ra lại là dại. Cách nói mìa mai, thâm thúy đầy chất triết lý của nhà nho uyên thâm, sâu sắc.

Cuộc sống càng trở nên thú vị, đáng quý khi về giữa thiên nhiên để "di dưỡng tinh thần":

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hổ sen, hạ tắm ao.

Mùa thu là mùa măng tre nhiều, ngon mà dê kiếm; mùa đông giá đô dễ làm lại vị ngọt đậm đà. Mùa nào thức ấy, sẵn sàng không phái cầu cạnh hay tranh đoạt. Cuộc sống đạm bạc, dân dã mà đáng quý biết bao. Thức ăn đã thế sinh hoạt lại càng thú vị hơn, Xuân tắm hổ sen, hạ tắm ao, thoải mái, tự do, thanh quý mà biết bao người nêu đã từng nếm trải thì không sao quên được. Hai câu thơ với đủ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông mà mùa nào cũng đáng nhớ. Ý thơ gợi ta nhớ đến cụ Nguvễn Trãi khi về ở ẩn tại quê nhà cũng thanh bần, bình dị:

Ao cạn vớt bèo cấy muống

Đìa thanh phát cỏ ương sen

Phải chăng những nhà nho chân chính dù ở thời đại nào cũng gặp nhau ở lí tưởng sống thanh cao, trong sạch.

Hai câu thơ cuối bài nêu rõ triết lí sống cao đẹp:

Rượu đến cội cây, ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Mượn điển tích xưa, Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hòe mơ thấy mình được vinh hoa phú quý, tinh ra mới biết đó chi là giâc chiêm bao. Vinh hoa phú quý chẳng qua chi là giấc mơ, là không có thật, là hư ảo vậy thì tại sao phải xem trọng làm gì. Nhà thơ nêu cao một triết lí sống xem thường danh lợi mà không phải người đời ai cũng làm được, nhất là trong thời buổi nhiễu nhương, đảo lộn, suy đổi.

Nhàn là một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật đặc sắc. Sử dụng thành công các hình thức đối lập, điển tích. Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên mà giàu tính triết lý

Bài thơ thể hiện rõ quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là thuận theo tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, không màng danh lợi. Đó là một nhân cách lớn mà dù ở thời đại nào cũng đáng để chúng ta nghĩ suy, trân trọng.

Nguồn: