Phân tích bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ

Thứ ba , 02/05/2017, 19:39 GMT+7
Nhớ rừng xuất hiện vào đầu những năm đầu của 1930, lúc chính phủ Pháp thời bây giờ đang ra sức khai thác các chính sách bóc lột người bản xứ bị trị. Người dân Việt thời bây giờ chẳng khác gì thân phận của con hổ lúc sa cơ. Có lẽ do liên tưởng ấy mà có ý kiến cho rằng Thế Lữ làm bài thơ Nhớ rừng để kín đáo bộc lộ lòng yêu nước thương nòi của mình.

A. Những điểm cơ bản của bài thơ Nhớ rừng

Bài thơ là lời tâm sự của con hổ bị nhốt ở vườn bách thú. về hình thức, bài thơ được tách thành 5 đoạn, mỗi đoạn có một giọng đọc khác nhau.

+ Phân tích tâm trạng con hổ bị nhốt (đoạn 1).

- Hoàn cảnh “sa cơ” của con hổ lúc ấy như thế nào?

- Tâm trạng của con hổ lúc ấy ra sao?

* Khinh lũ người...

* Uất hận, căm ghét

+ Cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị (đoạn 2 và 3)

- Tâm trạng của con hổ lúc ấy thế nào?

* Nhớ và tiếc những gì?

* Nhớ và tiếc như thế nào?

+ Đoạn cuối bài thơ là lời nhắn gửi, cũng có thể là lời trăng trối của con hổ đang “sa cơ” chưa biết bao giờ trở lại rừng xưa. Trong “những ngày ngao ngán ”, hổ chỉ còn biết “theo giấc mộng ngàn to lớn ” để được sổng gần gũi với “cảnh rừng ghê gớm ” ngày xưa.

Về hình thức:

- Cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh: đúng với từng cảnh, từng hoạt động, từng tình huống,...

* Nhịp thơ ngắt ở các dấu phẩy (,) kết hợp với thanh điệu của các từ, các vần liền được gieo rất tự do khác với giọng điệu cửa thơ Đựờng luật.

* Lặp lại từ “nhớ” để nhấn mạnh, và sau đó là nhớ cảnh, nhớ hoạt động,... nên ý thơ được chặt chẽ.

Phân tích bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ

B. Phân tích nội dung bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ

I. THẾ LỮ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, sinh năm 1907 tại Thái Hà ấp, Hà Nội; quê ở làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Thế Lữ sống ở Lạng Sơn với gia đình tới năm 11 tuổi thì xuống Hải Phòng. Theo học ban Thành Chung (THCS bây giờ) tới năm thứ ba thì bỏ học, ông lên Hà Nội thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và học được một năm rồi bỏ. Trong thời gian này, Thế Lữ bắt đầu viết văn. Được ít lâu, ông bị đau, phải về lại Hải Phòng tĩnh dưỡng.

Năm 1932, Thế Lữ tham gia Tự Lực văn đoàn, cộng tác với các báo Phong hóa, Ngày nay, Tỉnh hoa. Nếu Tản Đà là gạch nốì giữa Thơ cổ điển với Thơ mới trong diễn đạt và thi hứng; nếu Phan Khôi với bài thơ Tinh già được xem là người khởi xướng phong trào Thơ mới (1932) thì Thế Lữ là người xây dựng thành nền Thơ mới, mà Nhớ rừng là một trong những bài thơ nổi tiếng của ông.

Tâm trạng con hổ trong hoàn cảnh bị nhốt để làm “thứ đồ chơi” cho thiên hạ đã được nhà thơ diễn đạt bằng nhịp thơ sinh động, ngôn ngữ trữ tình lãng mạn và mới lạ.

II. Lời đề tờ đặt đầu bài thơ đã giới thiệu khái quát hoàn cảnh và nơi chốn “con hổ” mở “lời” tâm sự. Phép nhân hóa đã được vận dụng xuyên suốt cả bài thơ ngay ỏ câu văn này. Sau đó là lời của con hổ.

Tám câu thơ đầu, hổ đã tự giới thiệu hoàn cảnh sông và tâm trạng của mình. Hoàn cảnh của một kẻ bị “sa cơ” nên thất thế, bị “lữ người kia” bắt nhốt “trong cũi sắt” “để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi” cho con người thưởng ngoạn, như “bọn gấu dở hơi”, như “cặp báo vô tư lự”. Trong hoàn cảnh sa cơ thất thế ấy, hổ đã bộc lộ tâm trạng “căm hờn” và:

Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,

Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm.

Nhịp thơ liền mạch hay ngắt quãng bằng các dấu phẩy kết hợp với cách gieo vần liền (qua/ngơ, thẳm /hãm, chơi /hơi,...) và cách dùng từ đã tạo cho đoạn thơ một tiết tấu mới lạ phù hợp với diễn biến tâm trạng của con hổ khi bị giam cầm: lúc thì hờn căm, lúc thì buồn chán, lúc thì khinh khi... Trong hoàn cảnh và tâm trạng ấy, càng lúc hổ càng cảm thấy:

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ

Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa.

Ngôn từ, tiết tấu của hai câu thơ thật tuyệt. Hay là ở chỗ chúng làm cho người đọc nhận ra sự chung thủy, tình cảm sâu đậm của hổ đối với sơn lâm. Đấy là “tình thương nỗi nhớ” quay quắt, nhớ khôn nguôi. Hay là ở chỗ đọc câu thơ là cảm nhận ra ngay tính cách của chúa tể chôn sơn lâm. Sau hai câu thơ có ngôn từ, tiết tấu mạnh mang nội dung khái quát ây là đoạn thơ dài 10 câu diễn tắ những chi tiết về “tình thương nỗi nhớ”, về hành động “tung hoành hống hách” của chúa sơn lâm. Bằng nghệ thuật chọn từ, nhất là sử dụng các động từ mạnh (gào, hét, thét, quắc,...) phù hợp với lốì nhân hóa và so sánh, nhà thơ đã khắc họa thật sinh động và hào hùng cảnh sông tự do một thời của hổ. Để diễn tả cảnh kì vĩ, hào hùng, nhà thơ viết:

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,

Với khi thét khúc trường ca dữ dội,

Tiếng gió thổi trong rừhg, tiếng thác đổ bên sườn núi được nhân hóa thành “gió gào”, “nguồn hét”; tiếng cọp gầm được so sánh với “khúc trường ca dữ dội” khiến ngữ khí câu thơ càng mạnh, càng hào sảng. Còn khi đi, khi chạy thì “bước... dõng dạc, đường hoàng”, “lượn... như sóng cuộn nhịp nhàng” khiến người đọc nhận ra chúa sơn lâm có phong thái đĩnh đạc, uyển chuyển của con nhà võ thiện nghệ, cao cường. Nhất là cái nhìn của hổ. Cũng cần biết hổ thường săn mồi ban đêm khi vạn vật đang ngủ yên. Nơi săn mồi thường ở các cửa hang động, lùm cây, bụi rậm. Thật vô phúc cho bất cứ con vật nào bỗng gặp "mắt thần khỉ đã quắc”. Lúc ấy chỉ còn biết nín thở và lặng lẽ tìm cách thoát mạng. Chính nhờ sức mạnh, tính cách và phong thái ấy, nhờ biết đến sự sợ hãi của "mọi vật” mà hổ đã sớm nhận ra:

Ta biết ta chúa tể cả muôn loài,

Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổi.

Hai câu thơ có 16 tiếng, chỉ có 4 tiếng Hán-Việt (chúa tể, thảo hoa) dễ hiểu khẳng định giữa núi rừng hoang dã thì “ta” có sức mạnh và quyền uy trên tất cả “muôn loài”. Vậy mà giờ đây... “Trong cũi sắt”, chúa sơn lâm không chỉ nhớ mà còn tiếc những gì đã có lần tận hưởng ở “chốn thảo hoa không tên không tuổi”. 10 câu thơ kế tiếp thì hết 9 câu tác giả miêu tả không biết bao nhiêu cảnh tiếc nhớ bằng điệp ngữ “nào đâu...”. Những cảnh mà chúa sơn lâm tiếc ấy là những cảnh đẹp tuyệt vời. Nhẹ nhàng và rất thơ như:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Giữa cảnh thanh bình thì:

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?

Giữa cảnh rộn ràng của ngày mới thì:

Tiếng chìm ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Và nhất là hình ảnh kì vĩ, huyền nhiệm của chiều xuống, của ánh hoàng hôn:

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

Có lẽ khó tìm ra một họa sĩ tài hoa nào vẽ trọn cảnh trong ba câu thơ mà đọc lên là có cảm giác rợn người. Ấy là do cái thần truyền vào ngôn ngữ của nhà thơ.

Chừng ấy cảnh đẹp, xanh tươi, rộn ràng và kì vĩ của chốn thảo hoa không tên không tuổi mà giờ đây eó nhớ tiếc quay quắt chúa sơn lâm cũng không tìm lại được. Chúng đã bị “lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ” tước mất. Chúa sơn lâm đành thở dài:

-Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu ?

Câu thơ như thay lời kết luận đượm buồn và đầy thất vọng của kẻ đã từng có một quá khư trung thực và lẫy lừng.

Tiếp nối dòng cảm xúc dạt dào trên là 9 câu thơ diễn tả khung cảnh và tâm trạng hiện tại của chúa sơn lâm:

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,

Càng lúc càng căm giận, tức tối. vốn đã “ghét những cảnh không đời nào thay đổi” nay lại phải nhìn “những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối” được con người tạo ra để chúa sơn lâm cứ nghĩ là mình đang sống ở giang sơn núi rừng. Tác giả đã liệt kê một loạt những cảnh tầm thường, giả dối ấy trước khi mắng lời cuối.

Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu

Của chốn ngàn năm cao cả, âm u...

Đoạn thơ cuối là lời nhắn gửi, lời trối trăng của chúa sơm lâm với giang sơn núi cả. rừng sâu. Lời lẽ, giọng điệu vừa thống thiết vừa hào hùng với nghệ thuật dùng từ cảm thán, điệp ngữ, phủ định để vừa ca ngợi quê hương vừa tỏ bày nỗi đau đớn phải xa cách. Đấy gần như là lời tuyệt mệnh về phần thể xác để phần tâm hồn được gắn bó keo sơn. Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ”.

Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,

Ta đương theo giấc mộng ngàn to lân

Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,

- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

Nhớ rừng xuất hiện vào đầu những năm đầu của 1930, lúc chính phủ Pháp thời bây giờ đang ra sức khai thác các chính sách bóc lột người bản xứ bị trị. Người dân Việt thời bây giờ chẳng khác gì thân phận của con hổ lúc sa cơ. Có lẽ do liên tưởng ấy mà có ý kiến cho rằng Thế Lữ làm bài thơ Nhớ rừng để kín đáo bộc lộ lòng yêu nước thương nòi của mình. Xét thêm về những năm tháng hoạt động sau này của nhà thơ trong hàng ngũ những người yêu nước thì ý kiến ấy hợp tình hợp lí.

Phân tích bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ

III. Về sự nghiệp thơ ca của Thế Lữ, Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam đã có nhận xét:

“Thế Lữ không bàn về Thơ mới, không bênh vực Thơ mới, không bứt chiến, không diễn thuyết, Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng mà trong khoảnh khắc cả hàng ngữ thơ xưa phải tan vỡ. ”

Riêng về bài thơ Nhớ rừng, cũng đúng như Hoài Thanh - Hoài Chân nhận xét: “Đọc đôi bài, nhất là bài thơ “Nhớ rừng ”, ta tường chừng thấy những chừ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phỉ thường. Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được“. Như thế, ông đã được tôn vinh là nhà thơ góp công lớn trong việc dựng nền cho phong trào Thơ mới Việt Nam.     

Nguồn: