Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh

Thứ ba , 02/05/2017, 19:43 GMT+7
Tình cảm của tác giả đối với làng chài - nơi chôn nhau cắt rốn đã được thể hiện trong bốn câu thơ mang âm điệu thỏ thỉ nhẹ nhàng, lời nhắn gửi của người đang ở phương xa. Tận trong sâu thẳm của tâm hồn, màu sắc cũng như hương vị của cảnh sinh hoạt ở vùng biển mặn vẫn tươi nguyên trong nỗi nhớ không rời.

A. Những điểm cơ bản của bài thơ Quê Hương

Bài thơ thuộc thề loại thơ mới mang nỗi nhớ của người con xa quê.

Sông Trà Khúc vừa chảy thẳng dòng vừa tẻ ra hai nhánh rồi nhập lại tạo thành hai cù lao. Nhà thơ Tế Hanh ở cù lao hữu ngạn, đi thuyền ra biển mất nửa ngày.

Phân tích cảnh dân chài bơi thuyền ra khơi, (từ cấu 3 đến câu 8)

- Sức sống của những chàng trai chài lưới được diễn tả ở những câu thơ nào? Em hãy tìm cái hay, cái đẹp trong hai câu thơ ấy. (Chú ý đến các động từ, những hình ảnh so sánh để cảm nhận sâu hơn tinh thần lạc quan, yêu nghề, yêu cuộc sống của “dân trai tráng").

+ Để phân tích cảnh dân làng đón thuyền về trong đoạn thơ kê tiếp, học sinh cần trả lời những câu hỏi sau:

- Cảnh “bến đỗ" ngày hôm sau như thế nào?

- Câu thơ nào diễn tả dân chài được mùa cả? Thát độ của họ đối với biển trời mênh mông như thế nào?

- Tác giả đã thấy gì (thị giác) ở làn da, cảm nhận (tâm hồn) được điều gì ở “dân chài lưới

- Em cố suy nghĩ gì về các từ: mỏi mệt, mỏi mòn, mong mỏi?

- Dựa vào suy nghỉ ấy để tìm hiểu từ “mỏi ” trong câu thơ “chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm - Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì ở hai câu thơ cuối đoạn? Biện pháp nghệ thuật ấy tạo hiệu quả gì cho hai câu thơ?

Tinh cảm của nhà thơ đối với cảnh vật, cuộc sống và con người ở quê hương ông tập trung ở 4 câu cuối bài:

- Luôn tưởng nhớ: nỗi nhớ khôn nguôi: nhớ cảnh.

- Nhớ cái mùi nồng mặn quá: nhớ hương vị, nhớ người.

Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh

B. Phân tích nội dung bài thơ Quê Hương của Tế Hanh

I. Sông Trà Khúc, Quảng Ngãi, vừa chảy xuôi dòng, tới Bình Sơn tẻ thêm hai nhánh, rồi vòng khép lại thành hai cù lao phong cảnh hữu tình. Trần Tế Hanh ở cù lao hữu ngạn. Thuở nhỏ học ở trường làng, sau khi đậu bằng Sơ học, ông ra học trường Khải Định ở Huế. Mới 18 tuổi, Tế Hanh đã được giải khuyến khích cuộc thi thơ của Tự Lực văn đoàn vào năm 1939 qua tập thơ Nghẹn ngào, ghi lại những cảm xúc đầu đời về tình yêu, về tình quê hương qua con đường nhỏ, qua cảnh sinh hoạt làng chài mà Quê hương là bài thơ tiêu biểu.

II. Hai câu đầu của bài thơ, Tế Hanh viết:

Làng tôi ờ vốn làm nghề chài lưới:

Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.

Giới thiệu nơi chốn, ngành hghề một cách cụ thể. Bằng cách nói hình tượng hóa trong miếu tả thì “nước bao vây'" chính là đất cù lao, nơi “làng tôi ở". Dân làng chuyên nghề đánh cá biển, và muốn ra tới biển thì phải chèo thuyền vượt đoạn sông mất nửa ngày.

Sau hai cậu giữ vai trò giới thiệu ấy, Tế Hanh tập trung miêu tả cảnh sinh hoạt của làng chài. Nếu kinh nghiệm thời tiết của nhà nông là “nắng tốt dưa, mưa tốt lúa” thì kinh nghiệm thời tiết của dân đi biển ỉà “trời trong gió nhẹ” là có thể dong buồm ra khơi. Những buổi sáng mai hồng ây có biết bao nhiêu:

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.

Cánh buồm giương to như mành hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...

Bốn câu thơ chứa đầy sức sống, sự năng động tươi vui từ khung cảnh tới lòng người. Màu sắc tươi sáng từ ánh nắng mai (hồng), bầu trời (trong) tới cánh buồm (trắng). Các tính từ, động từ mạnh như “hăng, phăng, vượt, giương, rướn” kết hợp với nghệ thuật so sánh thuyền “như con tuấn mã”, cánh buồm “như mảnh hồn làng” khiến người đọc nhận ra sức sống, niềm đam mê nghề nghiệp của “dân trai tráng” ở làng chài.

Người đi xa, nhất là với người dân làng chài, thường để nỗi lo lắng cho người ở lại; không chỉ người đi biển mà người ở nhà cũng cầu mong mưa thuận gió hòa, và chờ người mang tin vui trở về.

Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về. uNhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe", Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

Những câu thơ trên không chỉ miêu tả cảnh dân làng, thương lái “tấp nập đón ghe về” mà cồn có cả sự chân chất giữa người với người và sự trấn trọng của con người với biển trời mênh mông. “Những con cá tươi ngon” kia tạo nên sức sống của dân chài, đó cũng là nguồn vui của họ và gia đình sau một chuyến đi cực nhọc và không kém hiểm nguy.

Với con người sau một chuyến đi biển,

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;

Một tượng đài bình dị giữa cuộc đời thường phá màu nắng, gió, và nước mặn của biển khơi. Dân chài lưới là những lực sĩ vì sự sống của chính họ, của sự sống biết bao người. Lời thơ ẩn dụ khiến người đọc nhận ra sự gắn bó, trộn lẫn sức sống, nguồn đam mê của trai tráng làng chài với biển, và cảm thấy gần gũi, thương yêu những tượng đài bình dị kia đã mang "vị xa xăm", mang hương vị của biển khơi về chốn đất liền. Nhà thơ không chỉ ưu ái với con người mà còn cảm nhận cả đến:

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

Nghe chất muối thấm dần trọng thớ vỏ.

Những chiếc thuyền như cỗ hồn, có sự sống trong hai câu thơ bằng ngôn ngữ nhân hóa trên. Cũng như trai làng chài, thuyền cũng hăm hở lướt sóng ra khơi, thuyền cũng vẫy vùng với sóng gió, nấng vàng ... Rồi khi về bến, sau khi được đón tiếp rộn ràng, một mình trong vắng lặng thuyền cũng “mỏi", vì một ngày vật lộn với với sóng biển, với nắng gió cung “nghe" chất muôi thấm dần vào cơ thể, cũng “nồng thở vị xa xăm". Cái hay của bốn câu thơ còn ở chỗ là làm tỏa ra không khí yên lặng của bến đỗ làng chài, làm lắng đọng cảm nhận về sinh hoạt của làng trong tâm hồn người đọc, một lắng đọng sâu đậm đáng yêu.

Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh

Có lẽ vì thế mà nhà thơ đã tâm sự:

Nay cảch xa lòng tôi luồn tưởng nhớ

Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,

Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,

Tôi thấv nhớ cái mùi nồng mặn quái

Tình cảm của tác giả đối với làng chài - nơi chôn nhau cắt rốn đã được thể hiện trong bốn câu thơ mang âm điệu thỏ thỉ nhẹ nhàng, lời nhắn gửi của người đang ở phương xa. Tận trong sâu thẳm của tâm hồn, màu sắc cũng như hương vị của cảnh sinh hoạt ở vùng biển mặn vẫn tươi nguyên trong nỗi nhớ không rời.

III. Tình làng là nguồn cảm hứng lớn nhất trong suốt đời thơ Tế Hanh mà bài Quê hương là sự mở đầu. Ngồn ngữ thơ bình dị nhưng chứa cả tấm lòng chân thật, nhịp thơ như nhịp sinh hoạt của người dân làng chài. Người đọc câm thấy sảng khoái khi bắt gặp hình ảnh “phăng mái chèo, cánh buồn giương to như mảnh hồn làng", hay cùng nhà thơ, cùng chiếc thuyền “nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ". Và như thế Quê hương xứng đáng là một bài thơ hay, và cũng thật đúng với thành ngữ “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”, khi thây Tế Hanh trích câu thơ của thân phụ ông làm đề từ cho bài thơ này.

Nguồn: