Phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh

Thứ ba , 02/05/2017, 22:29 GMT+7
Ấy là tâm trạng lạc quan trước nguy hiểm, tù đày, gian khổ của những người chấp nhận dấn thân vào con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Đây là con đường đầy nước mắt, đầy máu; là cái giá phải trả để có được độc lập và tự do.

A. Những điểm cơ bản cần lưu ý của bài thơ Tức cảnh Pác Pó

Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt theo lối tự trào. Nhà thơ tỏ bày việc ăn ở, việc làm của mình.

Câu 1 (câu khai) đề cập tới nơi ở nói chung. Câu 2 (câu thừa) đề cập tới việc ăn. Câu 3 (câu chuyển) đề cập tới việc làm. Câu 4 (câu hợp) đề cập tới cuộc đời chung của con người đang làm cách mạng.

* Nguyễn Trãi sau khi thôi làm quan, ông về vui với trúc, thông, ... và suối mát ở Côn Sơn với:

Nghìn mẫu xanh chen chúc

Ta đủng đỉnh ca ngâm dưới gốc

Hỏi ai sao chẳng sớm quay về

Nửa đời vui mãi trong lầm tục

Muôn chung chính vạc để làm gì?

(Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch)

* Dựa vào nội dung trên, học sinh sẽ tìm ra điểm giống nhau và khác nhau trong “thú lâm truyền” của hai nhà thơ.

Về âm, cần chú ý đến các từ cuối của bốn câu thơ: thanh bằng nhẹ và trong. Âm thanh ấy kết hợp với ngữ nghĩa diễn đạt tâm trạng thoải mái, chấp nhận hoàn cảnh hiện tại vì lý tường cao quý mà nhà thơ đang theo.

Phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh

B. Phân tích nội dung bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh

 “Người lãnh tụ, nhà nghệ sĩ

Của mỗi người của cả trăm quê

Trái tỉm lớn đập hoài không nghỉ

Những buồn vui, căm giận, say mê ...”

(Giang Nam)

I. “Buồn vui, căm giận, say mê ...” của Bác xuất phát từ lòng yêu Tổ quốc, yếu dân tộc  nồng nàn. Bác hoạt động chính trị (người lãnh tụ), và làm thơ (nhà nghệ sĩ) cũng là để thể hiện lòng yêu thương cao cả ấy. Nhiều lúc cả hai công việc như hòa làm một trong con người Bác. Điều ấy đã được chứng tỏ ở những bài thơ Người sáng tác ở núi rừng Việt Bắc khi từ nước ngoài về trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước mà bài thơ Tức cảnh Pác Bó là một ví dụ.

II. Bài thơ được làm theo thể Đường luật tứ tuyệt với đúng niêm luật của thể loại thơ này. Mở đầu là câu Khai, nhà thơ viết:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang,

Câu thơ giới thiệu thời gian, nơi chốn và việc thường làm được ngắt nhịp 4/3 bằng dấu phẩy một cách rõ ràng, dứt khoát. Đọc câu thơ ta có cảm giác ngày ngày, mỗi sáng mỗi tối nhà thơ đều lặp lại hành vi “ra, vào” ấy. Tại sao?

Bác đang trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước. Công việc của một lãnh tụ chính trị không giống công việc của một nhà thơ, nhất là với một lãnh tụ chính trị đang hoạt động chống lại tập đoàn thông trị để giành lại độc lập, tự do cho nước cho dân. Tất yếu là lãnh tụ phải làm nhiều công việc đúng với vai trò lãnh đạo phong trào. Nhưng thuở ban đầu cơ ngơi không có, Để tránh bị truy lùng, Bác tìm nơi hiểm trở để đặt cơ quan đầu não cho hoạt động ban đầu. Công việc của lãnh tụ phần lớn là vạch đường lối, kỷ cương, kế hoạch,... Ánh sáng để làm việc và an toàn trong hoạt động cách mạng là ý nghĩa sâu xa của “Sáng ra, tối vào” ở câu Khai.

Nếu câu Khai giới thiệu thời gian, nơi chốn để làm việc và nghỉ ngơi thì ở câu Thừa nhà thơ giới thiệu bữa ăn hàng ngày của mình:

Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.

Hai món trong một bữa: cháo ngô (bắp, bẹ), và rau măng. Nhưng không chỉ là một bữa mà là mọi bữa. Cụm từ “vẫn sẵn sàng" gợi cho người đọc cảm nhận đó. Ấy là bữa ăn để nuôi mạng sống mà người dấn thân phải chấp nhận. Ngày trước, Lê Lợi và Nguyễn Trãi khi dấy nghĩa ở Lam Sơn cũng có lúc lâm vào hoàn cảnh:

Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần

Khi khôi huyện quân không một đội

Cực khổ từ miếng cơm manh áo, nơi ăn chốn ngủ nhưng Hồ Chí Minh vẫn:

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng

Một cách hiểu giản dị, nôm na là không có cả bàn để làm việc, dù là một việc quan trọng là dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô để làm tài liệu học tập tư tưởng cho cán bộ cách mạng thời bấy giờ. Không có bàn ư ? Thì lấy đá làm bàn. Thử tưởng tượng hình ảnh Bác say sưa làm việc bên cái bàn “chông chênh” ấy để thấy rõ tính nghệ sĩ lẫn sự say mê công việc của Người! Câu chuyển của bài thơ có ý nghĩa như thế!

Dinh thự của một lãnh tụ chỉ là cái hang bên bờ suối, thức ăn mỗi bữa thuần là “cháo bẹ, rau măng, chỗ làm việc là bàn đá chông chênh ” bên suối, vậy mà Bác vẫn cho rằng:

Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Câu hợp của bài thơ phảng phất phong thái của các chí sĩ thuộc thế hệ trước. Chuyện tù đày gian lao với Phan Bội Châu thì:

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.

Còn với Phan Chu Trinh thì:

Gian nan chỉ kể chuyện con con.

Ấy là tâm trạng lạc quan trước nguy hiểm, tù đày, gian khổ của những người chấp nhận dấn thân vào con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Đây là con đường đầy nước mắt, đầy máu; là cái giá phải trả để có được độc lập và tự do. Không mang tâm trạng lạc quan trước gian khố, nguy hiểm thì ít ai thành cổng, thành danh được. Trước cái chết vẫn lạc quan không run sợ thì sống vđi “cháo bẹ, rau măng” cũng đã sang lắm rồi!

Ngày trước, sau khi thôi làm quan, Nguyễn Trãi đã về Côn Sơn tìm vui với trúc, thông và với suối mát. Trong:

Nghìn mẫu xanh chen chúc

Ta đủng đình ca ngâm dưới gốc

Hỏi ai sao chẳng sớm quay về

Nửa đời vui mãi trong lầm tục

Muôn chung chín vạc để làm gì?

Cũng là vui thú lâm tuyền nhưng cái vui của Hồ Chí Minh khác xa cái vui của Nguyễn Trãi. Khái quát về sự khác biệt ấy là: với Nguyễn Trãi, vui thú lâm tuyền sau khi đã hoàn thành sự nghiệp khởi nghĩa chống quân nhà Minh, sau đó làm quan, và rồi xa lánh đời “lầm tục”; còn với Hồ Chí Minh thì vui thú lâm tuyền lức mới khởi nghĩa chống Pháp, đang trực tiếp lãnh đạo các lực lượng chống lại chủ nghĩa thực dân.

III. Tức cảnh Pác Bó, một bài thơ tứ tuyệt có ngôn ngữ giản dị; dễ hiểu và gợi những hình ảnh rõ ràng về sự khó khăn, gian khổ trong những ngày đầu cách mạng của một lãnh tụ. Âm điệu của bài thơ, nhất là những từ cuối của mỗi câu kết hợp với ngữ nghĩa của toàn bài khiến người đọc cảm nhận được sự thỏa mái, chấp nhận cảnh sống khó khăn lúc bấy giờ vì lý tưởng cao quý mà nhà thơ đang cố thực hiện.

Hẵn nhiều người đọc cũng học được bài học lạc quan ở bài thơ này.

***

Nguồn: