Phân tích bài thơ Tương Tư của Nguyễn Bính

Thứ sáu , 20/10/2017, 11:43 GMT+7
Phân tích bài thơ Tương Tư của Nguyễn Bính để cảm nhận nỗi nhớ mong và đợi chờ khắc khoải của chàng trai trong bài thơ Tương tư của nhà thơ Nguyễn Bính.
Khi nói về Nguyễn Bính, nhà văn Tô Hoài đã nhận xét: “Nguyễn Bính là nhà thơ của tình quê, chân quê, hồn quê”. Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Bính lại nhận được những lời khen ngợi đó. Đọc những bài thơ của ông, chúng ta càng yêu quý chất dân gian giản dị, mộc mạc có trong từng lời thơ và hiểu được lí do Tô Hoài đã dành cho Nguyễn Bính lời khen chân thành như vậy.
 
Tương tư là một trong những bài thơ giàu chất liệu dân gian. Bài thơ được sáng tác vào năm 1939, in trong tập Lỡ bước sang ngang, rất tiêu biểu cho phong cách “chân quê” của Nguyễn Bính. Bài thơ thể hiện nỗi nhớ mong và đợi chờ khắc khoải của nhà thơ.
 
1. Bài thơ thế hiện nỗi nhớ mong da diết của chàng trai.
 
Nỗi nhớ mong của nhân vật trữ tình trải dài suốt bài thơ. Mở đầu, tác giả viết:
 
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người.
 
Tác giả đã trực tiếp dùng từ “nhớ” đế diễn tả nỗi nhớ. Việc lặp lại từ nhớ cộng với việc sử dụng từ chỉ số nhiều “chín”, “mười” có tác dụng làm cho nỗi nhớ tăng lên gấp bội lần. Nói cụ thể hơn là người thôn Đoài nhổ người ở thôn Đông hay chính là người con trai ở thôn Đoài nhớ người con gái ở thôn Đông nhiều, nhiều lắm.
 
- Nỗi nhớ da diết khắc khoải đơn phương dẫn đến người con trai mắc bệnh tương tư. Người con trai đã chân thành nói về căn bệnh của mình:
 
Gió mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
 
Gió mưa là quy luật của tự nhiên của đất trời, còn người con trai yêu nhưng không được người con gái đáp lại nên người con trai bị bệnh tương tư.
 
2. Bài thơ còn là lời trách móc nhẹ nhàng của chàng trai:
 
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Ngày qua ngày lại qua ngày
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
 
Việc chàng trai chờ đợi không chỉ trong ngày một ngày hai mà sự chờ đợi trải dài theo thời gian “ngày lại qua ngày”, “Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”, Thời gian cứ trôi, vạn vật cứ thay đổi còn người con gái thì vẫn vắng bóng. Càng chờ, càng vắng bóng, chàng trai càng băn khoăn:
 
Bảo rằng cách trở đò ngang
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
Nhưng đây cách một đầu đình
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...
 
Tác giả đã dùng một loạt từ có nghĩa khắng định chỉ sự gần gùi về mặt không gian: không “cách trở đò ngang”, chí “cách một đầu đình” đế chĩ sự cách trở xa xôi về tình cảm “mà tình xa xôi”. Thà rằng cách đò ngang hay cách núi cách sông người con gái không sang chơi nhà người con trai đã đành. Nhưng ở đây, không gian cách xa chỉ là một đầu đình. Ấy vậy, mà “nàng” cũng không sang thăm “chàng”. Như vậy, người con trai không băn khoăn, không hờn trách sao được.
 
3. Bài thơ diễn tả nỗi đợi chờ khắc khoải của chàng trai:
 
Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
Bao giờ bến mới gặp đò ?
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?
 
Càng yêu thương, càng trách móc, người con trai lại càng khắc khoải đợi chờ. Ai thấu cho nỗi lòng này? Ai biết cho sự thao thức đợi chờ này? Dấu chấm than cuối câu thay cho lời bộc bạch nỗi niềm. Hơn thế nữa, từ “bao giờ” cộng với dấu chấm hỏi cuối câu càng diễn tả sâu sắc hơn nỗi đợi chờ khắc khoải đến tuyệt vọng của chàng trai. Sự đợi chờ như dài mãi, dài mãi bởi từ “bao giờ” chẳng có giới hạn cụ thể về mặt thời gian.
 
4. Bài thơ nói lên ước mơ lứa đôi xum vầy của chàng trai
 
Bốn câu thơ cuối bài không chỉ nói lên nỗi nhớ mong của chàng trai mà còn nói lên ước mơ đôi lứa được xum vầy:
 
Nhà em có một giàn trầu
Nhà anh có một hàng cau liền phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
 
Chỉ trong hai dòng thơ cuối mà tác giả sử dụng hai biện pháp nghệ thuật tu từ. “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông” là biện pháp nghệ thuật hoán dụ. Lấy thôn Đoài chỉ người thôn Đoài, lấy thôn Đông chỉ người thôn Đông chính là phép tu từ hoán dụ. Còn câu “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?” là hình ảnh ẩn dụ. Bởi vì người đang yêu nhau cũng có những điếm tương đồng với quan hệ giữa trầu và cau. Đó là những quan hệ giữa những vật gắn bó khăng khít với nhau, tồn tại vì nhau, cho nhau, khi hoà hợp thì trở nên thắm thiết. Quan hệ tương đồng là cơ sở của mọi ẩn dụ. Điều đáng chú ý là trong câu thơ này, đích của người nói hướng về người mình yêu, nhưng người đó lại dùng cách nói bâng quơ, lấp lửng. Câu thơ đã bộc lộ niềm ước mơ duyên đôi lứa sắt son, bền chặt của chàng trai. 
 
- Ngôn ngữ và chất liệu thơ dung dị, hồn nhiên, nhiều hình ảnh ước lệ, ẩn dụ, giọng thơ đằm thắm, nồng nàn.
 
- Bài thơ Tương tư đã vượt thời gian và sống mãi trong lòng độc giả bởi nó không chỉ là nỗi nhó' mong da diết, sự đợi chờ khắc khoải mà nó còn là niềm mơ ước, niềm khát khao vươn tới hạnh phúc lứa đôi.
 
- Đúng như nhà văn Tô Hoài đã nhận xét: “Nguyễn Bính là nhà thơ của tình quê, chân quê, hồn quê”.
Nguồn: