Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Thứ hai , 27/03/2017, 23:33 GMT+7
Bài thơ Việt Bắc chính là bản tình ca, ca ngợi những tình cảm cao quý, đẹp đẽ của những con người kháng chiến đôi với Việt Bắc, của Việt Bắc đối với cách mạng mà cội nguồn sầu xa của nó chính là tình yêu quê hương đất nước, là truyền thống ân nghĩa, là đạo lí thủy chung của dân tộc.
 Bao trùm lên Việt Bắc đó là một nỗi nhớ da diết, sâu nặng.
 
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
 
Lời thơ mở đầu sặc mùi ca dao, với kết cấu mình - ta, câu thơ ngỡ như một lời nhắn gửi thâm đẫm tình nghĩa thủy chung đôi lứa. “Mình về mình có nhớ ta”, trước hết là lời ướm hỏi về nỗi nhớ của “ta” đối với “mình”, tức của người ở lại đối với người ra đi. Thực chất, người ở lại không có ý định hỏi mà chỉ muôn nhắc lại những kỷ niệm buồn vui, gian khổ trong suốt mười lăm năm mà người về xuôi từng gắn bó. Mười lăm năm gắn bó với mảnh đất Việt Bắc thân yêu, với con người Việt Bắc nhân hậu, nồng ấm thì không dễ mây ai lại quên đi được. Đã như thế vậy sao lại còn phải hỏi? Hỏi để nhắn nhủ, để khắc sâu, để nhớ mãi cái “mặn nồng thiết tha”, chia ngọt xẻ bùi trong suốt mười lăm năm dài đằng đẵng. Kỷ niệm được gợi lại một cách dồn dập từ phía người tiễn đưa.
 
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn
 
Câu thơ làm bật lên nguồn gốc của từng kỷ niệm xưa của những ân tình cũ. Núi phải có cây, sông phải có nguồn, người phải có tổ có tông và phải chăng đấy không phải là lời hỏi nữa mà là lời nhắn gửi về sự thủy chung, về đạo lí làm người, đạo lí dân tộc. Lắng lại trong những câu thơ đầu là một tiếng hát được cất lên thiết tha, đằm thắm, chan chứa bao tình cảm yêu thương trìu mến.
 
Tiếng ai tha thiết hèn cồn
Bâng khuâng trong dạ hồn chồn bước đi.
 
Tiếng hát từ xa vọng lại như níu giữ chân người với bao lưu luyến bịn rịn. Giây phút chia lìa diễn ra ngập ngừng giữa kẻ ở người đi.
 
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.
 
Với biện pháp tu từ hoán dụ, tác giả đã gợi lên một hình ảnh sắc nét về người dân miền núi. “Áo chàm” là một trong những trang phục quen thuộc của người Việt Bắc. Chiếc áo ây gợi sự giản dị, mộc mạc, chân chất mà bền chặt của người miền núi. Sự xuất hiện của chiếc áo chàm trong buổi tiễn đưa cũng chính là sự hiện diện của những tấm lòng, của những trái tim, và của cả hương hoa núi rừng - chât liệu đã dệt nên chiếc áo đơn sơ, mộc mạc mà như có hồn người. Biết bao điều muốn nói được dồn nén trong câu thơ: “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Câu thơ với cách ngắt nhịp lạ lùng được tách ra làm hai vế (Cầm tay nhau / biết nói gì hôm nay) tạo thành một khoảng lặng khiến cuộc chia li như diễn ra chậm lại. Tứ thơ gợi cho ta liên tưởng tới hình ảnh hai con người đứng như thế trong phút cuối chia tay mà không trao cho nhau được lời nào trong vô vàn lời muốn nói. Nhưng nói làm sao hết được kỷ niệm của mười lăm năm đã qua, nói làm sao được khi lòng quá nghẹn ngào xúc động. Và tất cả, tất cả đành gửi lại trong vòng tay ấm áp tình người.
 
Người ra đi nghẹn lời vì quá xúc động. Tiếp sau tâm trạng ấy của người đi là những câu hỏi day dứt khôn nguôi trong lòng người ỏ lại.
 
Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù
Minh về có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai?
Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng măng mai để già
Mình đi có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son
Mình về có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.
 
Phải nói rằng khi đọc tới những câu thơ này, người ta mới không còn nhầm tưởng đây là một bài thơ về tình yêu đôi lứa. Kết cấu mình - ta không phải dành “cho anh”, “cho em” cho người con trai hay người con gái mà cho một tình cảm cao cả hơn, lớn lao hơn đó chính là tình quân dân, tình yêu quê hương cách mạng, tình gắn bó giừa người miền ngược - miền xuôi, giữa thủ đô và Việt Bắc.
 
 
Đoạn thơ với một loạt câu hỏi dồn dập, thiết tha, người ở lại đã kể về những tháng ngày ồ chiến khu cùng đồng cam cộng khổ, cùng chung mối thù, cùng xẻ chia từng miếng cơm đắng chát nhưng đầy tình nghĩa. Người ở lại không chỉ gợi về những kỷ niệm của một thời kháng chiến đầy khó khăn gian khổ mà còn muôn diễn tả cho người ra đi hiểu được sự thiếu vắng của mình làm lòng người buồn bã, rừng núi cũng ngẩn ngơ. Người ra đi đã để lại một nỗi nhớ tràn ngập, mênh mông, lan tỏa khắp núi rừng Việt Bắc - cái nơi từng là chiếc nôi của cách mạng, là đầu não của cuộc kháng chiến. Sau những câu hỏi là lời đáp của người về xuôi.
 
Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.
 
Bao nhiêu phân vân của người ở lại đã bị đánh tan bởi sự khẳng định tình cảm bền chặt, dài lâu của người ra đi. Tình cảm ấy được khắc sâu trong hình ảnh “ta vói mình, mình với ta”, thực chất thì “ta với mình tuy hai mà một”, vậy thì tình nghĩa của mình đối với ta nhiều như thế nào, tình nghĩa của ta đôi với mình cũng ăm ắp như thế ấy. Tình nghĩa ấy mãi mãi được khắc sâu, được ghi lòng tạc dạ như một lời thề đinh ninh không bao giờ thay đổi. Tình nghĩa ấy cũng dồi dào, mênh mông như những dòng nước chảy ra từ nguồn suối vô tận, và nếu như một mai kia nguồn có cạn thì tình nghĩa vẫn cứ đầy vơi, vẫn cứ mặn nồng, tha thiết.
 
Những người chiến sĩ ra đi lòng vẫn để lại cho quê hương Việt Bắc, cho nhân dân Việt Bắc một nỗi nhớ nặng sâu. Nỗi nhớ được ví với tâm trạng của đôi lứa yêu nhau sắp phải xa cách, và trong giây phút cuối của cuộc chia li đã thốt lên những lời đầy luyến nhớ với một tình cảm trong sáng, thiêng liêng:
 
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thìa, sông Đáy, suối Lê vơi đẩy.
 
Nỗi nhớ được hiện hình lên cụ thế bằng một loạt hình ảnh: Trăng lên đầu núi gợi tình cảm thơ mộng, nhớ những buổi chiều nhạt nắng thiết tha, nhớ hơi ấm nồng nàn của cuộc sông tỏa ra từ những bếp lửa, nhớ từng rừng nứa bờ tre, từng con sông dòng suối.
 
Nhưng nỗi nhớ lắng sâu nhất, mang nhiều suy tưởng nhất là nỗi nhớ trong những tháng năm đã chia ngọt xẻ bùi.
 
Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi
Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm xẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
 
Trong cuộc kháng chiến gian lao, nhân dân và chiến sĩ đã chia nhau bao nhọc nhằn, vất vả, khó khăn. Cuộc sông chiến đầu thiếu thốn đủ thứ, họ đã phải dành cho nhau từng miếng cơm manh áo, từng mảnh chăn trong những đêm trời buốt giá. Và đó chính là biểu hiện của truyền thống dân tộc, của tình cảm giai cấp, của tình đồng chí đồng đội, của tình quân dân cá nước mà sâu xa là tình yêu cách mạng, yêu độc lập, tự do.
 
Trong nỗi nhớ ấy có hình ảnh chịu thương chịu khó của người mẹ, có cả nỗ lực cố gắng của những lớp bình dân học vụ về đêm, có âm thanh tiếng chày đều đặn của những bàn tay miệt mài công việc.
 
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô
Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan ...
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa.
 
Song tất cả những mệt nhọc, khó khăn gian khổ đều bị chìm lấp đi trong tiếng hát ca những con người luôn yêu đời, yêu sự sống, yêu sự hiến dâng. “Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo” tiếng hát vang dội cả núi rừng, tiếng hát át tiếng bom.
 
Đoạn thơ tiếp theo rạo rực một nỗi nhớ của người về xuôi.
 
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan chuốt từng sợi giang
Ve kều rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa hình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
 
Chia tay với Việt Bắc, người ra đi không chỉ nhớ “người” mà còn nhớ cả “hoa”. Thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp và con người Việt Bắc đầy ắp nghĩa tình đã gợi cảm xúc nhớ thương tuôn trào trong lòng tác giả. Cảnh và người trong tám câu thơ quyện chặt vào nhau, tràn ngập ánh sáng đường nét và màu sắc tươi tắn. Mỗi hình ảnh của cảnh vật gợi nhớ một kỷ niệm đẹp đẽ khác nhau. Cái tài tình của nhà thơ là ở chỗ đã vẽ lên được một bức tranh thiên nhiên tươi sáng, ấm áp về cả bón mùa mà chỉ cần mây câu thơ ngắn ngủi. Cảnh sắc của vạn vật đều mang hơi thở ấm nóng của tình người vì vậy mà nó bỗng trở nên gần gũi thân thuộc với con người hơn, bớt đi biết bao cái vẻ hoang sơ hiu hắt của núi rừng vốn dĩ rất thâm u. Đọc những câu thơ trên của Tô' Hữu, ta như lạc vào một khu vườn sực nức mùi hương và ánh sáng. Cái “đỏ tươi” của hoa chuôi làm tan đi bao giá băng lạnh lẽo của mùa đông xứ Bắc. Màu trắng tràn ngập lan tỏa khắp núi rừng của hoa mơ tạo nên cái nhẹ nhàng, trong trẻo, thanh khiết mà tràn đầy sức sông của những ngày xuân. Tiếng ve vang lên làm náo nức, rộn rã cả một mùa hè chỉ có nắng và gió. Cuối cùng là mùa thu quyến rũ với ánh trăng dịu dàng tỏa sáng xuống núi rừng yên ả đầy huyền ảo và thơ mộng. Tâ't cả khung cảnh thiên nhiên đều được gắn với những hoạt động thiết thực của con người. Vì thế mà nỗi nhớ hướng về thiên nhiên Việt Bắc cũng chính là hướng về những con người lao động cần cù, thủy chung, son sắt, ân tình. Những câu thơ lục bát chan chứa phong vị ca dao trữ tình cứ gọi nhau tuôn chảy đã tạo nên một khúc hát ngọt ngào, êm dịu mà lắng sâu - khúc hát của kỷ niệm, của tình đời, tình người.
 
Con người gắn bó với thiên nhiên trong cuộc sông đời thường và gắn bó cả trong cuộc sông chiến đấu.
 
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành lũy sắt dày 
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù.
 
Sự sống của cỏ cây núi rừng và sự sông của con người như bám chặt vào nhau. Con người cầm súng để bảo vệ quê hương, bảo vệ bản làng chòm xóm, bảo vệ cây và đâ't. Và chính những thứ đó đã tạo địa thế cho con người vững vàng chiến đấu. Sự đoàn kết ấy chính là biểu hiện sức mạnh của dân tộc, của đất nước, của Tể quốc giàu truyền thông cha anh. Qua mỗi ngôi nhà, qua mỗi nẻo đường, chúng ta đều bắt gặp một không khí kháng chiến sôi nổi.
 
Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay Nghìn đèm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
 
Đoạn thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca với một không khí mang đậm chất sử thi của thời đại - một thời đại “tất cả lẽn đường, tất cả thành chiến sĩ”. Ớ đây, yếu tô" hiện thực và yếu tô' cách mạng đã được kết hợp chặt chẽ, hài hòa trong hình ảnh thơ. Với nghệ thuật láy “rầm rập”, “điệp điệp”, “trùng trùng” đã diễn tả được sức mạnh của quân đội ta, và tiếng bước chân ấy vẫn vọng lại từng đêm, từng đêm. Đó chính là sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân, sức mạnh của lòng yêu nước, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tinh thần đoàn kết cùng đứng lên đánh giặc. Sức mạnh ấy tạo nên một khí thế xung thiên động địa của cả một dân tộc quật cường.
 
Những niềm vui, những đau thương vất vả đều là câu chuyện của ngày hôm qua. Những kỉ niệm ấy sẽ còn đeo đuổi mãi trong lòng “mình” với “ta”. Kĩ niệm ấy bỗng trở thành nỗi nhớ trong phút giây chia tay, trở thành lời nhắn nhủ, biết ơn sâu sắc.
 
Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hổ sáng soi 
ơ đâu đau đớn giống nòi
Trông lèn Việt Bắc mà nuôi chí bền
Mười lăm năm ấy ai quên
Quê hương Cách mạng dựng lên Cộng hòa
 
Hình ảnh Việt Bắc - quê hương cách mạng với mười lăm năm nghĩa tình đã khắc ghi, hằn sâu trong tâm hồn, trong trái tim của kẻ ở, người đi, của nhân dân miền ngược và chiến sĩ miền xuôi.
 
Việt Bắc là một bài thơ đậm đà bản sắc dân tộc. Với lối kết cấu trữ tình của ca dao, bài thơ như dựng lên một câu chuyện tình yêu với đầy đủ cung bậc của nó. Câu chuyện tình ấy thực chất là tình nghĩa gắn bó thắm thiết giữa nhân dân Việt Bắc và những người chiến sĩ, vì thế nên chia li hôm nay không phải là mãi mãi mà để có một hôm sau vui vẻ hơn, tươi đẹp hơn. Và họ đã hứa hẹn sẽ gặp lại nhau giữa một ngày hội trong tương lai.
 
Cầm tay nhau hát vui chung
Hôm sau mình nhé hát cùng thủ đô.
Nguồn: