Phân tích cảm nhận của em về Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

Thứ tư , 04/04/2018, 13:07 GMT+7
Lấy nhan đề “Bên cạnh những trang vàng chói lọi, lịch sử còn có cả những trang u ám”, hãy viết một bài văn nghị luận về đoạn trích “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” (Trích “Vũ trung tùy bút”, Phạm Đình Hổ).
Danh sĩ Phạm Đình Hổ sống vào thời kì lịch sử đầy biến động từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX. Vũ trung tùy bút là một trong những tác phẩm quan trọng nhất trong sự nghiệp văn học của ông. Điều đáng quý của thiên tùy bút này là giúp người đọc thấu hiểu bên cạnh những trang vàng chói lọi, lịch sử dân tộc cũng có những trang u ám cần ghi nhớ để trần trọng hiện tại. Đoạn trích Chuyện củ trong phủ chúa Trịnh là một trong những minh chứng tiêu biểu cho điểu này. 
 
Vũ trung tùy bút (Tùy bút viết trong mưa) viết bằng chữ Hán vào khoảng thời Lê mạt Nguyễn sơ, ghi lại nhiều sự việc xảy ra vào cuối đời Lê và đẩu đời Tây Sơn. Đây có thể xem là tác phẩm tùy bút hấp dẫn và giàu giá trị nhất trong thời kì văn học trung đại. Các truyện dài ngắn khác nhau trong tập tùy bút không sắp xếp theo thể loại, trong đó tác giả bàn vê' lễ nghi, phong tục, tập quán, danh nhân, du lãm, ghi chép sự việc xảy ra trong đời sống hiện thực xã hội đương thời. Bởi thế, Vũ trung tùy bút không chỉ có giá trị văn chương mà còn cung cấp những tài liệu quý vê' sử học, địa lí, xã hội học.
 
Lịch sử Việt Nam có nhiều trang vinh quang chói lọi, lấp lánh niềm tự hào, niềm vui của dân tộc. Chúng ta đã ghi vào đó những chiến công oai hùng thời trung đại như chiến thắng Bạch Đằng chống quân Nam Hán, công cuộc đánh đuổi giặc Minh tàn bạo, trận tốc chiến tốc thắng thẩn kì của vua Quang Trung đại phá quân Thanh hay thời hiện đại như hạ gục những kẻ đế quốc khổng lổ như thực dân Pháp, đế quốc Mĩ. Chúng ta cũng lưu lại vào lịch sử những hành trình văn hóa, nghệ thuật... bền bỉ và đặc sắc. Nhưng lịch sử một dân tộc không chỉ có thế, chúng ta cũng cần nhìn thẳng vào những thời kì loạn ly, nhiều đau thương và đen tối đã từng đi qua. Trong Vũ trung tùy bút, cùng với Cuộc bình văn trong nhà Giám, đoạn trích chuyện củ trong phủ chúa Trịnh phơi bày hiện thực đen tối, bất công cuối đời Lê. Có thể nói, đoạn đường lịch sử gập ghềnh và đau thương được phản ánh rất chân thực qua ngòi bút sắc sảo và thẳng thắn của Phạm Đình Hổ. Đó là hình ảnh đời sống nhân dân cơ cực bên cạnh bức tranh đời sống xa xỉ của bọn vua quan bạo tàn, nhũng nhiễu.
 
Bối cảnh rộng lúc bấy giờ là diện mạo xã hội “khoảng năm Giáp Ngọ, Ất Mùi (1774-1775), trong nước vô sự” thời Thịnh Vương. Thuở ban đầu, Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm vốn là người văn võ toàn tài, cơ trí, quyết đoán nhưng sau khi dẹp yên các phe phái chống đối, trật tự kỉ cương được lập lại thì sinh thói kiêu căng, đắm chìm trong cuộc sống xa hoa, hưởng lạc, nhất là sau khi phong Đặng Thị Huệ làm Tuyên phi, nghe lời dèm pha phế con trưởng, lập con thứ gây binh biến tranh giành quyền lực.
 
Bằng cái nhìn yêu nước thương dân, Phạm Đình Hổ nhận ra sự u ám bao phủ cảnh tượng ăn chơi xa hoa, hưởng lạc của vua quan đương thời. 
 
Những thú vui hao tiền tốn của ở Trịnh Sâm được ghi lại chân thực, tỉ mỉ mà trước hết đó là thú chơi đèn đuốc, xây dựng đền đài, cung điện. Việc xây cất diễn ra “liên miên”, “mỗi tháng ba bốn lần”. Không chỉ thế, cách ăn chơi của bọn thống trị còn hết sức kì quái, bệnh hoạn và hỗn độn. Quang cảnh hai bên hồ mỗi khi “Vương ra cung Thụy Liên trên bờ Tây Hồ” thật bát nháo, binh lính dàn hầu vòng quanh khắp bốn mặt hồ, “các nội thần thì đều bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách hóa chung quanh bờ hổ để bán”. Không chỉ các quan nội thần hầu cận trong cung vua phủ chúa tham gia vào những trò vô bổ, lố lăng này mà ngay cả những vị quan đại thần, những vị quan theo hẩu và bảo vệ vua chúa, những vị quan đáng ra phải can gián thì lại theo thuyền ngự “tùy ý ghé vào bờ mua bán các thứ như ở cửa hàng trong chợ”. Ngôi chùa Trấn Quốc uy nghiêm, cổ kính vốn là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long thời Lý, Trần nay chúa Trịnh lại cho “bọn nhạc công ngồi trên gác chuông... hòa vài khúc nhạc”. Phạm Đình Hổ liệt kê hàng loạt những chi tiết, những hình ảnh khiếm nhã, lố lăng mà không kèm theo bất cứ một lời bình luận nào, nhưng độc giả hoàn toàn có thể tự mình đánh giá sự việc và con người, chúa Trịnh ăn chơi hưởng lạc, thú xây dựng đền đài hao tiền tốn của, thú dạo chơi, tấu nhạc lố lăng, .xô bồ thiếu văn hóa, mất đi sự tôn nghiêm cần có.
 
Biết bao tiền của, vàng bạc, châu báu là tài sản quốc gia, là mổ hôi nước mắt của dân chúng bị vua chúa và quan lại bòn vét đến kiệt cùng phục vụ lòng tham và cuộc sống cung đình xa hoa, lãng phí. Đất nước điêu linh, nhân dân chịu cảnh sống trong hẩm tai vạ. Chúa Trịnh còn có thú chơi cây cảnh hết sức dị thường. Mọi kì hoa dị thú ở khắp nơi, Chúa đểu có “sức”, lệnh bằng văn bản thu lấy, đây là hình thức vơ vét, cướp bóc trắng trợn mà người dân có khổ cũng không than được hoặc có oan mà trời chẳng thấu. Thật đúng như trong câu ca dao xưa:
 
Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.
 
Chúa Trịnh ra sức vơ vét “trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian”. Có khi lấy cả “cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về. Nó giống như một cây cổ thụ mọc trên đẩu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng”. Việc này không chỉ hao tiền tốn của mà còn hao tổn sức người. Chúa Trịnh dùng đến một cơ binh mới khiêng nổi, huy động mấy trăm người chỉ để di chuyển một cây đá lại thêm bốn người đi kèm, “đểu cẩm gươm, đánh thanh la đốc thúc quần lính khiêng đi cho đều tay”. Những thú chơi vốn sa đọa của Chúa bỗng trở thành việc hệ trọng của cả quốc gia, bọn quan lại đều ra sức chiều theo ý Chúa. Trong khi đó, dân chúng đói khổ cơ cực thì trong phủ chúa “tùy chỗ, điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ trông như bến bể đầu non”. Những chi tiết này chính là lời tố cáo, lên án đanh thép nhất vê' tội ác lộng quyền, sa đọa và lối sống hưởng lạc vô nhân đạo của những người đứng đầu đất nước. Những người lẽ ra phải thương dân, yêu dân, chăm lo cho dân lại là những người đẩy dân vào chỗ điêu linh, tăm tối.
 
Trước cảnh tượng ấy, âm thanh từ phủ chúa mỗi “đêm thanh cảnh vắng” lại ngân lên rất ghê rợn “tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa, gió táp, vỡ tổ tan đàn”. Đó là âm thanh của sự đổ vỡ, tan hoang, là dự cảm mà “kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”. Dự cảm vể điểu không may sau này quả thực đã linh nghiệm khi chúa Trịnh qua đời, loạn kiêu binh nổ ra, kinh thành Thăng Long trở nên hoang tàn. Điểu không may ấy phải chục năm sau mới đến với tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh, nhưng ngay lúc này đã đổ lên đầu dân chúng khi “bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm”. Chỉ bằng hai chữ “phụng thủ” chúng thẳng tay chiếm đoạt những “chậu hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay”. Không chỉ thế, lũ nội quan này “vừa ăn cướp, vừa la làng”. Ban ngày biên chữ chiếm đoạt, ban đêm lại trèo tường trộm cắp, vu oan giá họa, buộc tội “giấu vật cung phụng” khiến các nhà gặp phải tai bay vạ gió buộc lòng “bỏ của ra kêu van chí chết”. Với những “hòn đá hoặc cây cối gì quá lớn” không thể khiêng ra được, chúng ngang ngược, thẳng tay phá hủy tường nhà để đưa đi. Những nhà không may có vật quý không chỉ mất của mà còn chịu cảnh cửa nhà tan hoang. Bởi thế, nhiều gia đình “có khi phải đập bỏ núi non bộ, hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ”. 
 
Trước sự nhũng nhiễu, tham lam của bọn nội quan nịnh thần, chính gia đình của tác giả cũng phải chặt đi “cây lê, cao vài mươi trượng lúc nở hoa, trắng xóa thơm lừng” và “hai cây lựu trắng, lựu đỏ, lúc ra quả trông rất đẹp”. Câu chuyện rất thực của gia đình tác giả không chỉ tạo thêm niềm tin cho độc giả mà một lần nữa là lời tô' cáo, phê phán, vạch trẩn bộ mặt tham lam, xấu xa, đáng ghê tởm của bọn quan lại cũng như sự thối tha, mục ruỗng trong phủ chúa. Đây cũng là những biểu hiện suy đồi và khủng hoảng nghiêm trọng của chế độ phong kiến trong những chặng đường lịch sử cuối cùng.
 
Những trang u ám của lịch sử được Phạm Đình Hổ ghi lại bằng lối văn ghi chép sự việc cụ thể, chân thực, sinh động đã trở thành nguồn cung cấp tài liệu quý vể sử học. Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh với dự cảm về “triệu bất tường” giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa cuộc tiến công ra Bắc của người anh hùng áo vải Quang Trung được tái hiện chân thực trong tiểu thuyết lịch sử chương hổi Hoàng Lê nhất thống chí. Chính những trang văn chân thực ấy cung cấp cho chúng ta cách nhìn nhận khách quan và đủ đầy hơn về hành trình gian nan của dân tộc.
 
Chuyện củ trong phủ chúa Trịnh là trang tùy bút mang giá trị văn học và lịch sử sâu sắc. Bằng ngôn ngữ khách quan, lối kể tả tự nhiên, sắc sảo, ta thấy được thái độ phê phán và bất bình của tác giả trước lối sống xa hoa hưởng lạc của chúa Trịnh cùng thói tham lam, nhũng nhiễu của lũ quan lại nịnh thần. Gốc rễ sâu xa của sự bất bình ấy là sự bênh vực và đồng cảm sầu sắc với nỗi điêu linh của dân chúng và dự cảm về sự suy vong tất yếu của vương triều Lê - Trịnh.
Nguồn: