Phân tích cảm nhận đoạn trích Trao Duyên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Thứ sáu , 14/04/2017, 13:12 GMT+7
Hãy phân tích và nêu cảm nhận của em về đoạn trích Trao Duyên để hiểu rõ tâm trạng của Thuý Kiều và đặc sắc nghệ thuật trong đoạn thơ.
Kiều trao lời cho Vân đầy thuyết phục thông minh:
 
Mở đầu là lời cầu khẩn của Kiều:
 
Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
 
Hai câu thơ dựng lên một không khí, một cuộc nói chuyện đặc biệt. Đây không phải lời chị nói với em mà là lời người đang lâm nạn cầu khẩn vị cứu tinh. Kiều đề nghị Vân ngồi lên để Kiều lạy rồi mới thưa đã tạo nên không khí trang trọng. Trong lời nói Kiều dùng từ rất khôn khéo: cậy - chịu. Cậy là nhờ nhưng từ cậy bộc lộ hết thái độ khẩn khoản, tha thiết van lơn, đặt cả niềm tin, hi vọng vào sự chấp thuận của người được nhờ. Từ chịu khác từ nhận, nhận là có thể chối từ, nhưng chịu có sức nặng tin tưởng, kì vọng nên không thể thoái thác.
 
- Chuyện Kiều sắp thưa là rất khó nói nhưng lựa lời khôn ngoan, Kiều đã nói được:
 
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước khi đèm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
 
Lời tâm sự ngắn gọn mà đầy đủ và nói rõ lí do nhờ cậy em. Tình yêu của mình giờ đây xem như đã tan vỡ: Giữa đường đứt gánh tương tư. Nên Kiều nhờ em lấy Kim Trọng. Em hoàn toàn chủ động trong chuyện này: Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em, chị không ép nhưng em hiểu là chị không thể gánh hai trách nhiệm, hi sinh cùng một lúc hai nghĩa vụ: Hiếu tình khôn lẽ hai hề vẹn hai. Lời nói khá bình tĩnh ấy đã thuyết phục ở Vân chia sẻ phần trách nhiệm. Dĩ nhiên phần thiệt thòi chị đã gánh.
 
 
Thuyết phục ở mặt lí trí, Kiều còn đánh động Vân ở tình cảm chị em:
 
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
 
Nhờ Vân vì tình ruột thịt mà nhận giùm tình yêu lớn lao. Đắp đổi tình yêu này bằng tình yêu khác. Khi ngầm so sánh, Kiều thấy dời mình thật ngắn ngủi nên lời nói đầy sầu tủi. Điều đó, tao được sự đồng cảm, chia sẻ ở Thuý Vân.
 
Cảnh Kiều gặp Kim Trọng
 
Kiều còn viện dẫn cả cái chết mình ra để nói đến sự toại nguyện nếu được Vân nhận lời:
 
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
 
- Lời thỉnh cầu của Kiều vừa chân thành vừa thuyết phục, thiết tha. Khôn ngoan trong từng từ ngữ, lời nói, lập luận, Kiều đưa Vân vào tình thế mặc nhiên phải chấp nhận không ý kiến. Kiều quả là sắc sảo mặn mà trong cả bi kịch đau đớn nhất.
 
Kiều trao kỉ vật cho Vân trong tâm trạng bấn loạn.
 
Khi Vân đã đồng thuận, Kiều trao vật kỉ niệm:
 
Chiếc vành với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
 
Cái này Vân riêng giữ còn vật này của chung?... Lời nói lúng túng, lộn xộn ấy chứng tỏ Kiều quá luyến tiếc nên tay đưa mà lòng cố níu kéo lại một chút gì cho mình. Tâm tư mang nỗi đau giằng xé vì tình yêu sắp vĩnh viễn mất.
 
Khi trao lời cho em, Kiều nói mình sẽ vui vẻ mà bây giờ nghĩ rằng mình là người mệnh bạc, mất người. Lời lẽ mâu thuẫn ấy cho thấy tâm trí Kiều bấn loạn, tinh thần đang khủng hoảng, bi kịch tình yêu vì thế càng thêm đau đớn. 
 
Lúc này sự hiện diện của vật kỉ niệm càng gợi nhớ người yêu, mở ra những tháng ngày êm đềm hạnh phúc đã qua, những phút giây say đắm. Quá khứ đẹp tương phản với hiện tại đau buồn, nên Kiều càng tiếc thương dĩ vãng. Mới hôm nào hai người còn thề bồi ước nguyện mà bây giờ tất cả trở thành chuyện ngày xưa: Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
 
Khi trao xong vật kỉ niệm, Kiều rơi vào tâm trạng hụt hẫng, mất mát, chới với. Kiều thấy mình như người đã chết. Lời dặn dò của Kiều như vọng về từ thế giới bên kia, rưng rưng nước mắt:
 
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghi trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan.
 
Thật đau đớn cùng cực khi còn sống mà nhìn thấy viễn cảnh cái chết oan của mình. Kiều dang đưa tang cho một cuộc tình và tự đưa tang cho linh hồn mình. Niềm tự đau đã dâng lên tột đỉnh. Dù đã chết nhưng linh hồn của Kiều vẫn còn mang nặng lời thề: Nợ tình chưa trả cho ai / Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan, nên oan hồn vẫn còn quanh quất đâu đây, mong về gặp lại người yêu xưa, mong tìm được niềm đồng cảm xót thương của người trần thế: đoái hoài cho chút oan hồn.
 
Niềm đau thương của Kiều đã đến chỗ u uất, cùng cực. Nguyễn Du đã nhập hẳn vào nhân vật mới diễn tả được tâm lí sâu sắc như vậy.
 
3. Nỗi đau xé lòng của Kiều.
 
Khi nỗi đau dâng đến tột cùng, Kiều quên mình đang dứng trước Vân nên nói với chính mình. Từ ngôn ngữ đối thoại chuyển sang ngôn ngữ độc thoại:
 
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
 
Hình ảnh ẩn dụ trâm gãy gương tan chỉ tình yêu tan vỡ nên con tim tan nát nhưng con tim không thôi khao khát yêu dương. Càng đau khổ vì yêu, người ta càng yêu mãnh liệt: muôn vàn ái ân. Nhưng vô cùng đau đớn khi chữ tình lại thiếu chữ duyên, người lương không có phận (Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn / Khuôn trăng biết có vuông tròn mà hay), nên tiếng kêu thương ngập tràn nước mắt:
 
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
 
Những hình ảnh dồn dập: trâm gãy gương tan, tơ duyên ngắn ngủi, phận bạc như vôi, nước chảy hoa trôi, nhịp thơ nhanh nên đoạn thoại như cơn lốc xoáy, vần Kiều tan nát, tơi bời. Biện pháp tương phản giữa tình yêu bất tử: muôn vàn ái ân, trăĩn nghìn... với hiện thực ngắn ngủi phũ phàng: trâm gãy gương tan, tơ duyên ngắn ngủi... làm cho bị kịch tâm hồn càng thêm dữ dội.
 
Trong ngút ngàn thương đau, Kiều gọi tên người yêu nơi nghìn trùng xa cách cho vơi niềm đau khổ:
 
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
 
Tiếng kêu như xé lòng. Từ Kim lang vang lên xiết bao thiết tha, trân trọng và vỡ ra cùng nước mắt xối xả. Dù tình yêu tan vỡ nhưng trái tim yêu vẫn đằm thắm, sâu đậm, sắt son. Một từ thiếp đã đổi tình yêu ban đầu ra tình nghĩa phu thê sâu nặng. Một từ phụ cho thấy Kiều không đổ lỗi cho hoàn cảnh mà tự nhận trách nhiệm về mình. Một biểu hiện tâm lí khá bất ngờ vì Kiều có lỗi gì đâu. Quên nỗi đau của mình mà chỉ quan tâm đến nỗi đau của chàng Kim và mặc cảm tội lỗi càng làm cho Kiều ngời sáng hơn, vị tha, cao thượng hơn.
 
Đoạn trích Trao duyên có hai nhân vật nên phải là ngôn ngữ dối thoại, lúc đầu là thứ ngôn ngữ ấy nhưng chỉ nghe một mình Thuý Kiều nói. Sau đó là dành chỗ cho ngôn ngữ dộc thoại của Kiều. Thành ra, đoạn thơ cho thấy Kiều tự ý thức về bi kịch tình yêu tan vỡ, tự giãi bày tâm tư sâu kín nên độc giả thấy tâm lí Kiều hết sức phức tạp, phong phú; diễn biến tâm trạng sinh động, bất ngờ nhưng tự nhiên hợp qui luật. Càng nói, nỗi đau càng dâng lên, Kiều càng nức nở, rồi quên cả Vân bên cạnh, đến lúc gọi tên chàng Kim thì nỗi đau dâng đến tột đỉnh nên sau đó Kiều đã ngất lịm. Nếu không có biệt tài tả tâm lí thì người đọc sẽ thấy một cái kết đoạn gượng gạo. Trong nỗi đau vật vã, lời lẽ của Kiều trau chuốt, đẹp đẽ mà vẫn tự nhiên. Điều đó cho thấy trí tuệ sáng suốt của Kiều và thể hiện biệt tài khác của Nguyễn Du: sử dụng ngôn ngữ.
 
Đoạn trích thể hiện bi kịch tình yêu đau đớn của nàng Kiều, nhưng cũng lột tả được trí tuệ sắc sảo, nhân cách cao thượng của nàng.
 
Sự đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Du với bi kịch của nàng Kiều là biểu hiện của tình cảm nhân đạo trong đoạn trích.
Nguồn: