Phân tích đoạn thơ Nỗi Thương Mình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Thứ sáu , 14/04/2017, 14:27 GMT+7
phân tích và nêu cảm nhận của em về đoạn thơ Nỗi Thương Mình để hiểu rõ bi kịch nỗi đau khổ của Thuý Kiều
Nội dung chính của đoạn trích là Tâm trạng Thuý Kiều dày vò đau khổ trong bi kịch thứ hai: bi kịch về nhân phẩm. Là người trọng danh dự, phẩm tiết, thế mà phải tự giày xéo cái cao quí đó, đau khổ biết bao khi tự mình chán ghét mình.
 
Cảnh thật mà người giả:
 
Biết bao bướm lả ong lơi,
Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đèm.
Đập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh.
 
Mở đoạn là cảnh thanh lâu: người ra vào tấp nập, gái trai dập dìu, ngả nghiêng trong tiếng nhạc, ánh mắt đưa tình, ngập ngụa trong cơn say, cười nói như điên dại. Cuộc sống lấy đêm làm ngày, phấn son nhớp nhúa. 
 
Nguyễn Du tả cảnh tế nhị này bằng những hình ảnh ước lệ: bướm ong, dùng điển tích, điển cô": lá gió cành chim, Tống Ngọc, Trường Khanh nên tránh cho người đọc khỏi phải chứng kiến trực tiếp cảnh xấu xa, đồi bại, nhưng cảnh vẫn hiện lên rất thực, sống động. Bằng những từ láy: lả lơi, dập dìu và biện pháp thậm xưng: Cuộc say đầy thảng, trận cười suốt đèm, Nguyễn Du đã dựng dược toàn bộ không khí của chốn lầu xanh. Nguyễn Du không chỉ có tài tả cảnh thiên nhiên mà còn có tài tả cảnh sinh hoạt.
 
Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
 
Trong cảnh rất phản cảm ấy, người đọc thấy hiện lên nhân vật Kiều phải say, phải cười, phải ngả nghiêng, lơi lả, phải dìu bước, gắng gượng vào ra... nghĩa là phải làm tất cả như cái máy để quên. Đó là một Kiều giả — Kiều kĩ nữ. Nguyễn Du dã truyền đến người đọc nỗi xót đau trước cánh hoa tươi bị dập nát trong chốn bùn dơ, niềm căm phẫn trước bọn ác nhân: Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà...
 
Cảnh lùi xa, Kiều còn lại một mình, trơ ra con người thật:
 
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
 
Đêm canh tàn, không gian sâu, Kiều tỉnh rượu, con người thật trở về làm nàng giật mình thảng thốt, bàng hoàng, rồi đối diện với cô dơn bẽ bàng. Cách ngắt nhịp 2/4/2 của câu bát, cho thấy tâm trạng Kiều từ từ thấm thìa nỗi cô đơn buồn đau. Đây là trạng thái tâm lí rất sống, rất thật của một người cô đơn sau khi tỉnh rượu. Tần số xuất hiện rất dày từ mình trong một câu thơ, cho thấy Kiều đang cô độc tuyệt dôi, niềm tự thương thật xót xa vì không ai chia sẻ giãi bày. Giật mình, mình lại thương mình xót xa là câu thơ chủ đề của đoạn trích thể hiện nỗi thương mình đau xót.
 
Thao thức trong đêm vắng canh dài, Kiều hình dung lại cảnh sống ê chề nên càng xót xa tiếc nuôi thời vàng son nhung lụa đã mất:
 
Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!
 
Cảnh thật đối chọi tương phản giữa xưa và nay. Quá khứ êm đẹp chỉ nhắc lại một câu còn là ba câu nói đến thực tại phũ phàng, bao trùm đè nặng chôn lấp quá khứ, Kiều càng đau đớn hơn. Hàng loạt câu hỏi tu từ và điệp từ sao cho thấy giọng điệu vừa đau xót vừa đay nghiến. Mặt sao... Thân sao... là lời Kiều tự đay nghiến mình, tự chán mình. Thật đau xót biết bao khi phải tự ruồng bỏ chính mình. Đây là bi kịch tự thân, diễn ra trong nội tâm nhân vật khi ý thức nhân phẩm trỗi dậy. Con người tự đau cho mình cũng như tự nhận thức giá trị bản thân là điểm mới trong văn chương trung đại.
(Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn / Trơ cái hồng nhan với nước non - Hồ Xuân Hương).
 
 
Cách kết cấu chêm xen thành ngữ đầy sáng tạo: bướm lả ong lơi, dày gió dạn sương, bướm chán ong chường đã tạo ra giọng thơ nhấn nhá diễn tả tâm trạng bị dày vò đau đớn. Giọng nhân vật trùng với giọng kể chuyện đã thể hiện niềm đồng cảm đau xót sâu xa của nhà thơ.
 
Bôn câu thơ đầu là người đọc đau cho Kiều, bốn câu tiếp theo là cùng đau với Kiều.
 
Cuối cùng là cảm nghĩ của Kiều về cảnh sống hiện tại:
 
Mặc người mưa Sở, mây Tần,
Riêng mình nào biết có xuân là gì.
Đòi phen gió tựa hoa kể,
Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu.
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
Đòi phen nét vẽ câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa.
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
 
Thi liệu thơ mang tính ước lệ, cách điệu: mưa Sở, mây Tần, xuân, gió tựa hoa kề, tuyết, trăng, cầm kì thi hoạ nên nhìn bề ngoài có vẻ thanh tao, trang nhã nhưng kì thực là một cảnh nhơ nhớp nên lòng buồn mênh mông vô hạn.
 
Có bốn câu nói về cảnh thiên nhiên, bốn câu nói về cảnh sinh hoạt. Cấu trúc tám câu thơ cuôl đoạn rất nhịp nhàng đăng đối: thiên nhiên lạnh lẽo trống vắng, còn sinh hoạt nhạt nhẽo rời rạc. Tất cả đều góp phần thể hiện cảnh sống lạnh lẽo, cô quạnh, tâm trạng nàng Kiều cô đơn, thẫn thờ, vô cảm buông trôi.
 
Đoạn thơ có nhiều câu tiểu đối, hoặc đối giữa câu lục với câu bát rất nhịp nhàng, khi thì diễn tả sự đối lập, khi thì cho thấy sự liên tục, kéo dài của sự việc... để thấy nỗi đau đớn hay nỗi buồn mênh mông. 
 
Nhờ xúc cảm da diết và sâu lắng nên Nguyễn Du đã viết những câu thơ đẹp nhất, mang tính phổ quát cao, đầy chiêm nghiệm triết lí:
 
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
 
Đoạn thơ thấp thoáng ẩn hiện cuộc sống lầu xanh và diễn tả chồng chất nỗi đau đớn xót xa trong bi kịch nhân phẩm của nàng Kiều. Đau xót vì cái đẹp bị vùi dập là biểu hiện của tinh thần nhân văn cao đẹp trong đoạn trích.
 
Nguồn: