Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng

Thứ ba , 17/10/2017, 14:32 GMT+7
Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia để thấy được nghệ thuật trào phúng của tác giả. Vũ Trọng Phụng bước chân lên thi đàn văn học mang theo đứa con cưng Số đỏ, với nhiều ấn tượng độc đáo đã làm lung lay bức mành đen tối của xã hội tư sản thành thị.
Tác phẩm là lời tố cáo, đanh thép, mãnh liệt bản chất xảo trá, bịp bợm, là tấc lòng của tác giả trước cảnh hiện thực nhố nhăng đương thời. Cảnh nhố nhăng, điên đảo ấy được khắc họa trong một loạt chân dung biếm họa mà rõ nét nhất là ở Hạnh phúc của một tang gia.
 
Hạnh phúc của một tang gia, ngay nhan đề của đoạn trích đã gây một tiếng cười - cười mà chua chát, mà mỉa mai. Mâu. thuẫn trào phúng cơ bản nằm ngay trong cái đầu đề của chương. Thường thì tang gia ai cũng buồn đau vì phải vĩnh biệt người thân yêu về thế giới khác - một cõi mênh mông xa vời không bao giờ có thể gặp lại được. Ằy vậy nhưng ở đây tang gia lại rộn lên những niềm vui riêng tư thầm kín. Tất cả mọi người trong gia đình cụ cô" Hồng vô cùng sur g sướng, hạnh phúc khi cụ tổ mất đi, bởi vì mỗi thành viên trong gia đình đều thấy đây là một dịp may hiếm có: “Bọn con cháu vô tâm ai cũng sung sướng, thỏa thích... Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma...” Đám con cháu phấn khích, nôn nóng, họ đã biến một đám ma thành một lễ hội long trọng, linh đình để phộ trương tất cả mọi sự lô" lăng, dâm đãng, lẳng lơ và rởm đời của mình.
 
Khi cụ tổ chết, mỗi người trong gia đình cụ cố Hồng đều hồ hởi, phấn chấn. Ai nấy đều mang những tâm trạng, những nỗi niềm.
 
Ông Phán mọc sừng vô cùng sung sướng hạnh phúc vì sắp sửa được một số tiền để bù vào khoản bị vợ cắm sừng. Cụ tổ chết, tài sản chia ra mỗi người một phần, ai cũng cầu mong điều đó. Với ông Phán mọc sừng thì đấy là một niềm vui lớn “Ông Phán mọc sừng đã được cụ cố Hồng nói nhỏ vào tai ràng sẽ chia cho con gái và rể thêm một số tiền là vài nghìn đồng”. Chính ông ta cũng không ngờ rằng giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông ta mà lại to đến thế. Nghĩ đến những đồng tiền sắp có trong tay, ông Phán mọc sừng không chỉ đánh đổi cả danh dự mà còn xem đó là một ân huệ lớn, một sự may mắn lắn. Thây tiền ông đánh đổi cả tình thân để vui sướng.
 
Cụ cố Hồng trước cái chết của bô' ruột lẽ ra cụ phải hết sức đau đớn, tiếc thương thì ngược lại cụ đã biến cái chết của bố đẻ thành một sự mong mỏi, đợi chờ cho việc thực hiện ý đồ riêng tư. Đây là dịp hiếm có để cụ mặc đồ xô gai đóng giả điệu bộ của một người thương xót cha “Cụ mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc, vừa khóc mếu, để cho thiên hạ phái chỉ trỏ”. Cụ muôn đám tang của cha mình là cái đòn bẩy để cụ trở nên nổi tiếng, để được mọi người biết đến. Ước mơ của cụ đã dẫn cụ đến hô’ thẳm của sự tha hóa nhân cách. Cụ tha thiết đám ma của cha cụ phải được mọi người biết đến với tất cả sự nhố nhăng mà cụ cho là tô’t đẹp, là văn minh, giàu có, lịch lãm. Cụ trở nên một kẻ xấu xa, bỉ ổi, một con người không có tình người.
 
Đứa cháu đích tôn cũng chẳng khá hơn chút nào, ông Văn Minh thích thú vì “Cái chúc thư kia sẽ vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa”. Ông nội chết mà thằng cháu đích tôn chỉ cảm thấy hãnh diện bởi ý định của mình sắp thành công thì gia đình ấy thật là một gia đình đại vô phúc.
 
Cậu tú Tân chạy qua chạy lại cứ “điên người lên vì cậu đã sẵn sàng mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không được dùng đến”. Cái chết của cụ tổ là dịp để cậu thi thố tài năng, ra mắt với mọi người.
 
 
Bà Văn Minh nóng ruột nôn nao đợi chờ giây phút cử hành tang lễ để có cơ hội trình diễn cái mốt thời trang kiểu mới tân thời của hiệu may Âu hóa. Đám tang là nơi mọi người phải nghiêm trang, kính cẩn thì bỗng dưng nay lại được biến thành chỗ trình diễn thời trang - trình diễn những lối ăn mặc kiểu cách nhố nhăng, hở hang.
 
Riêng Tuyết thì buồn rầu vì chưa thấy người tình đến. “Tuyết như bị kim châm vào lòng”. Đám tang của ông là nơi để Tuyết hẹn hò nói những lời tình tứ với gã ma cà bông mà Tuyết từng ngưỡng mộ, là nơi để Tuyết phô trương hình thể “Hôm nay Tuyết mặc y phục ngây thơ - cái áo dài voan mỏng trong có coóc-sê trông như hở cả nách và nửa vú - nhưng mà viền đen và đội một cái mủ mấn xinh xinh. Thấy thiên hạ đồn mình hư hỏng nhiều quá, Tuyết bèn mặc bộ ngây thơ để thiên hạ phải biết rằng mình chưa đánh mất cả chữ trinh”. Cái lối ăn mặc của Tuyết đã nói lên bao điều về thực trạng Ầu hóa của tầng lớp tư sản thành thị lúc ấy với lôi ăn chơi nữa Tây nửa ta chẳng có một chút gì là văn hóa.
 
Với ông Tuýp Phờ Nờ (TYPN) đám tang là sân khấu để ông thể hiện tài thiết kế mẫu mã của mình và hi vọng sau đám tang tên tuổi của ông sẽ vang xa trong thiên hạ, các báo chí sẽ viết bài về những bộ quần áo cách tân mới mẻ “hợp thời trang”. Vì vậy mà ông vô cùng sốt sắng vì mãi vẫn chưa thấy giờ đưa đám “Ông TYPN rất bực mình vì mãi không được thấy sự chế tạo của mình ra mắt công chúng để xem các báo chí phê bình ra sao”. 
 
Cụ Phán bà trước đám tang bố chồng chỉ duy nhất lo lắng một điều, làm sao yên bề gia thất cho Tuyết - đứa con gái đang được xem là quả bom nổ chậm trong nhà. Bà muôn nhân cơ hội này mà lấy chồng cho Tuyết thì hay biết bao - vừa để Tuyết không phái mang tiếng hư hỏng, lại vừa có thể lấy được một chàng rể quý cho gia đình. Nói tóm lại, trước cái chết của cụ tổ, mỗi người đều mang một tâm trạng riêng tư không giông nhau, nhưng họ đều thể hiện một điểm duy nhất, chung nhất dó là tuyệt nhiên không có ai tỏ ra buồn thương tiếc nuôi người vừa quá cố. Thậm chí họ còn đợi chờ cái giờ phút ấy đến càng nhanh càng tốt, để những ý tưởng đã từ lâu lắm của họ trở thành hiện thực. Tâm trạng trong đại gia đình cụ cô' Hồng đã nói lên một hiện thực đau đớn của xã hội lúc bấy giờ. Đặc biệt tác giả lên án lối sống phóng túng, kiểu cách Tây không ra Tây, ta chẳng ra ta của giới thượng lưu, của tầng lớp tư sản thành thị. Mọi giá trị chân thực về cuộc sông đã bị sụp đổ trước cái lối Âu hóa nhố nhăng, nhặng xị, rởm đời của họ. Đám tang là chỗ thí điểm cho tất cả mơ ước của họ, vậy nên bọn con cháu vô tâm ai cũng sung sướng thỏa thích. "... Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma, vân vân...”.
 
Cảnh đám tang diễn ra trong sự đua đòi lối sống văn minh rởm đời của đám con cháu. Đám tang thường được mọi người chuẩn bị nhỏ nhẹ, khiêm tốn nhưng mang tính thiêng liêng, kính cẩn, thể hiện được sự buồn đau, tiếc nuối của người sông đối với người chết, nhưng đám tang của cụ tổ lại được tổ chức một cách long trọng vì cụ cố Hồng muốn thế. Cụ muốn mọi người phải ca tụng, trầm trồ, hoa mắt lên bởi từ trước tới giờ chưa có đám ma nào lại to lớn, giàu có đến vậy. Và đám tang đã thực hiện đúng với ý định của cụ cô' Hồng “theo cả lối ta, Tàu, Tây có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, cho đến lốc bốc xoảng, và bút điếu và vòng hoa, có đến ba trăm câu đối, vài ba trăm người đi đưa, lại có cậu Tú Tân chỉ huy, những nhà tài tử chụp ảnh đã thi nhau như ở hội chợ, thật là một đám tang to tát có thể làm cho người chết nằĩn trong quan tài củng phải mỉm cười sung sướng”. Đấy là một đám tang làm náo loạn cả thành phố, không phải bằng những giọt nước mắt thương tiếc mà bằng tiếng cười vui vẻ như trong một ngày hội lớn vì “kèn ta, kèn Tây, kền Tàu lần lượt thay nhau mà rộn lên” cảnh huyên náo, không khí nhộn nhịp chẳng có gì là hơi thở của sự chết chóc.
 
Cái làm cho tang lễ độc đáo lên nhiều lần đó là con cháu trong gia đình cụ cô' Hồng đã mượn cái chết của cụ tổ để làm nơi quảng cáo những bộ áo quần cách tân Âu hóa kiểu mới, mốt thời thượng. Những “bộ đồ xô gai tân thời, cái mũ mấn màu trắng viền đen... có thể ban cho những ai có tang thương đau đớn vì kẻ chết củng được hưởng chút ít hạnh phúc ở đời”. Nơi đám tang là nơi để bà Văn Minh - cụ cố’ Hồng khoe khoang bộ đồ xô gai mới mẻ, là nơi để Tuyết mặc những chiếc áo hở hang gọi mời, để cậu Tú Tân trổ tài chụp ảnh... cả một đám tang cứ loạn lên với những ý tưởng riêng tư. Đó là một đám tang với một cảnh tượng hết sức kì quặc, lô" lăng từ trước đến nay chưa bao giờ có.
 
Không chỉ mỗi mình đám con cháu trong đại gia đình cụ cố Hồng mong muôn cụ tổ chết mà dường như những bè bạn, những người có mối quan hệ dây mơ rễ má với gia đình này cũng chờ đợi. điều đó. Những con người sông trong tầng lớp thượng lưu tư sản chỉ chờ cơ hội để phô trương, Dhơi bày tất cả mọi sự lô" bịch “những ông bạn thân của cụ cố Hồng, ngực đầy những huân chương như: Bắc đẩu bội tinh, Long bội tinh, Cao Miên bội tinh, Vạn tượng bội tinh, vân vân... trên mép và trên cằm đều đủ râu ria, hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen hoặc hung hung hoặc lún phún hay rầm rậm, loăn quăn, nhiều Ông tai to mặt lớn thì sát ngay với linh cữu, khi trông thấy làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết, ai nấy cũng đều cảm động hơn những khi nghe tiếng kèn xuân ai oán, não nùng”. Thực chất, họ dâu phải đi để thăm viếng người quá cô' mà để khoe khoang những tấm huy chương, khoe khoang những bộ râu kiểu cách hợm hĩnh của mình và đặc biệt là sự dâm đãng. Tuổi của họ đã bằng bậc cha bậc chú của Tuyết nhưng khi thây Tuyết hở hang trong bộ quần áo mỏng tang thì ai nấy dều cảm động. Đấy thật là một xã hội nhô" nhăng, dơ bẩn, chỉ biết ăn chơi sa đọa đánh mâ't hết bản chất người của mình. Đó chính là một lũ cặn bã của xã hội tư bản thành thị lúc bấy giờ.
 
Đám ma xuất hiện hàng trăm “trai thanh gái lịch”, họ đến để ngắm nghía, tán tỉnh, hẹn hò, bình phẩm về nhau: “một nửa là phụ nữ, phần nhiều tân thời, bạn của cô Tuyết, bà Văn Minh, cô Hoàng Hôn, bà Phó Đoan, vân vân...”. Tất cả họ bề ngoài đều “mang vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma” nhưng bên trong thì ai nấy đều hớn hở, đều hãnh diện vì trên người mình đang được trang sức bằng những bộ cánh mới - những bộ cánh mà họ đã ao ước được khoác lên mình từ lâu để mọi người trầm trồ khen ngợi. Một đám ma đủ “trai thanh gái lịch” nên họ chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau bằng những vẻ mặt buồn rầu. Trong đám ma không hề có một tiếng khóc rnà chỉ thấy những câu thì thào.
 
Con bé nhà ai mà kháu thể? - Con bé bên cạnh đẹp hơn nữa!
- ừ, ừ, cái thằng cứ bạc tình bỏ mẹ! Xưa kia vợ nó bỏ nó chớ?
Hai đời chồng rồi! Còn xuân chán! - Gớm cải ngực, đầm quá đi mất! Làm mối cho tớ nhé? Mỏ vàng hay mỏ chì? Không, không hẹn hò gì cả? - Vợ béo thể, chổng gầy thế thì mọc, sừng mất! Vân vân!”. 
 
Đúng là lời lẽ của những kẻ cặn bã tận cùng trong xã hội, thế mà những con người ấy cũng được mệnh danh là hiểu biết, là có học thức mới lạ. Xã hội ấy đúng là xã hội vô nhân đạo, những con người đấy đúng là những con người vô liêm sỉ.
 
Có lẽ ấn tượng nhất trong đoạn trích vẫn là sự xuất hiện của nhân vật Xuân Tóc Đỏ. Vũ Trọng Phụng chỉ giới thiệu một cách sơ qua và khá ngắn gọn về nhân vật này nhưng đã làm nổi bật được bản chất lõi đời của hắn. Xuân Tóc Đỏ xuất hiện giữa lúc đám tang đang di chuyển đã làm cho cảnh đám tang thêm lô' lăng. Gần như hầu hết bản chất của Xuân Tóc Đỏ được bộc lộ, đấy là sự tinh quái, láu lỉnh bên cạnh tính đểu cáng và dâm đãng vôn có của hắn. Hắn biết làm cho mình trở nên nhân vật đặc biệt quan trọng, biết sự quảng cáo đúng chỗ, xuất hiện đúng lúc để lấy lòng của những người mà hắn đang cần đến, đặc biệt là cụ bà và Tuyết. Cái tính chất lõi đời của Xuân đã được tác giả kết thúc ở một hành động dối trá, bịp bợm, vô sỉ đáng ghê tởm, đó là hành động hắn nhận những đồng tiền từ tay ông Phán mọc sừng: Hắn nhận một cách khéo léo, ranh mãnh đến nỗi không ai có thể nhận ra được. Hóa ra Xuân đến đám tang cũng chỉ để trao đổi những đồng tiền bẩn thỉu, rách rưới chứ không ngoài mục đích gì khác.
 
Những gì gọi là “to tác”, “danh giá” của đám tang chỉ là sự phô trương giả dối, rởm đời, lố lăng nhưng cái đáng cười và cũng đáng khóc đó là giữa bao nhiêu sự lố lăng thì đám “vẫn cứ đi” như không hề có chuyện gì xảy ra. Vì vậy mà qua cảnh đám ma của cụ Tổ, Vũ Trọng Phụng đã chĩa ngòi bút của mình đánh một đòn mạnh vào chế độ xã hội thôi nát, mục rỗng lúc bấy giờ, đặc biệt là tầng lớp tư sản thành thị sa đọa, vô sỉ, không có đạo đức.
 
Với bút pháp trào phúng bậc thầy, Vũ Trọng Phụng đã vạch trần chân tướng của tầng lớp tư sản thành thị chỉ biết chạy theo đồng tiền, đua đòi lối sống văn minh rởm, bịp bợm, dâm đãng đồi bại mà đánh mất tất cả lương tâm và bản chất tốt đẹp của con người. Hạnh phúc của một tang gia qua mỗi chân dung, mỗi tên gọi là bức tranh biếm họa về lối sống ấy. Đoạn trích này cùng với tác phẩm số đỏ đã cho ta thấy Vũ Trọng Phụng đúng là một cây bút hiện thực trào phúng xuất sắc của nền văn học trào phúng 1930 - 1945. Đúng như lời Nguyễn Hoành Khung đã nói: “Sự nghiệp văn học của Vũ Trọng Phụng trước hết là tiêng nói tố cáo mãnh liệt đối với cái chế độ bất công tàn bạo đã vùi dập quyền sống, đầu độc tâm hồn con người; và những trang sách sôi sục phẫn uất dù có u ám của ông đã làm toát lèn niềm khát khao chảy bỏng một sự đổi thay xã hội. Tiếng nói ấy, niềm khát khao ấy chắc chắn vẫn được các thế hệ độc giả đấu tranh xây dựng xã hội mới ngày nay cảm thông và trân trọng”.
 
BÀI LÀM 2
 
Tuổi đời của Vũ Trọng Phụng quá ngắn ngủi. Mới 27 tuổi, ông đã mất vì mắc bệnh lao. Nhưng đây lại là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào. Chưa đầy mười năm sáng tác (từ năm 1930 đến 1939), ông đã đế lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ. Số đỏ là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông. Tiếu thuyết Số đỏ được đăng ở Hà Nội báo từ số 40 ngày 7 - 10 - 1936 và in thành sách đầu năm 1938. Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia thuộc chương XV của tiều thuyết Số đỏ. “Bàng nghệ thuật trào phúng sắc bén, qua đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”, Vũ Trọng Phụng đã phê phán mạnh mẽ bản chất giả dối và sự lố lăng đồi bại của xã hội “thượng lưu” ở thành thị những năm trước Cách mạng”.
 
Hạnh phúc của một tang gia là toàn bộ chương XV của tác phẩm Số đỏ. Nhan đề này làm cho người đọc phải chú ý. Nhan đề truyện đã hàm chứa nội dung trào phúng. Tang gia mà lại hạnh phúc! Cả nhà sung sướng, vui vẻ khi trong nhà có người chết. Thật không thế tưởng tượng nổi. Phải là một lũ con cháu bất hiếu mới có thế vui sướng khi cụ tố trong gia đình mất. Cái chế của cụ Tổ là niềm hạnh phúc của mọi thành viên trong gia đình vì cái chết của cụ mang lại cho mỗi người một cái lợi nào đó, một niềm vui nào đó.
 
Bản chất giả dối và sự lố lăng đồi bại của xã hội "thượng lưu” ở thành thị trước hết thể hiện ở thái độ giả dối, ở cách cư xử mất đạo đức của những kẻ bất hiếu khi nghe tin cụ Tố mất, “Ba ngày sau, ông cụ già chết thật”. Quả thực, con cháu cụ Tố đà mong đợi rất lâu cái ngày được đưa tang cụ Tổ. Niềm vui lớn nhất của đại gia đình bất hiếu này là tờ di chúc của cụ cố tổ thế là đã đến lúc được thực hiện. “Cái chết của cụ làm cho nhiều người sung sướng lắm". Nghĩa là khi cụ quy tiên thì cái gia tài kếch xù mới được chia cho tất cả con trai, con gái, con dâu, con rể, cháu trai, cháu gái.... Việc chia gia tài là hiện thực “chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa”. Tình huống này đã làm bộc lộ bản chất của đám con cháu bất hiếu. Ông Phán mọc sừng đã được cụ cố Hồng nói nhỏ vào tai rằng sẽ chia cho con gái và rề vài ngàn đồng. Chính ông ta cũng không ngờ rằng giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông ta mà lại to đèn như thế. Còn con trai cụ tố thì mừng vui ra mặt. Cụ cố Hồng tuy mới hơn 50 tuổi nhưng lâu nay chí mơ ước được gọi là cụ cố. Cụ tố chết, thật là dịp may đã đến. “Cụ cố Hồng mừng rỡ đến mức gan ra lẩm cẩm”. Thằng bồi tìm đã đếm được đúng một nghìn tám trăm bảy mươi hai câu gắt: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”. Không những thế, Cụ cố Hồng đã nhắm nghiền mắt lại đế mơ màng đến lúc cụ mặc đồ xô gai, vừa lụ khụ chống gậy vừa ho khạc, vừa khóc mếu, đế cho thiên hạ phải chỉ trỏ: “Ui kìa, con giai lớn đã già đến thế kia kìa. Cụ chắc mười phần ràng ai củng phải ngợi khen một cái đám ma như thể, một cái gậy như thế...”. Nhân vật này điển hình cho một loại người ngu dốt, háo danh. Bởi vì theo quan niệm trước đây nếu người chết có nhiều con cháu và con cháu càng lớn tuổi bao nhiêu thì càng được coi là gia đình có phúc bấy nhiêu. Do đó, đế được người đi dưa đám ma khen, cụ cố Hồng cố tình tỏ ra mình đã già yếu. Văn Minh, con trai cụ cố Hồng, cháu nội cụ tổ thì mừng rỡ vì được chia gia tài và vì có dịp đế lăng xê những bộ quần áo táọ bạo nhất “có thể ban cho những ai có tang đang đau đớn vì kẻ chết củng được hưởng chút ít hạnh phúc ở đời”. Đây là cái cớ để Văn Minh quảng cáo hàng, đế kiếm tiền. Vợ của Văn Minh thì mừng rỡ. Ngoài việc được chia gia .tài, vợ Văn Minh còn sốt cả ruột vì mãi mà chưa được mặc bộ đồ áo gai tân thời. Còn cô Tuyết (em Văn Minh) cùng bất hiếu như anh trai mình. Cô sẽ có điều kiện đế trưng diện trong đám tang. Cậu Tú Tân thì mong chóng đến ngày đưa tang để có dịp trổ tài chụp ảnh. Khi chưa phát phục, cậu “sốt ruột đến điên người lên” vì cậu đã chuẩn bị mấy cái máy ảnh mà mãi không được dùng.
 
Tất cả những con người trên không hề giống nhau về hình dáng, cử chí, điệu bộ và tâm trạng riêng nhưng đều có chung một niềm hạnh phúc là được mau chóng chứng kiến cụ tổ mất, đế sớm được hưởng gia tài. Đó là niềm vui của một đại gia đình bất hiếu.
 
Bản chất giả dối và sự lố lăng đồi bại của xã hội “thượng lưu” ở thành thị còn thế hiện khá đặc sắc qua cảnh đám tang cụ tổ.
 
Ngay việc miêu tả hình thức tổ chức đám tang, ta cũng đã thấy được ngòi bút phê phán sắc sảo của tác giả: “Một đám ma theo cả lối Ta, Tàu, Tây, có kiệu hát cống, lợn quay đi lọng, cho đến lốc hốc xoảng và hú dích, và vòng hoa, có đến ba trăm câu đối... Thật là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài củng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu...!”. Khó một nỗi là đám ma đi đến đâu là huyên náo đến đấy. Cả một thành phố đã nhốn nháo lên”. Như vậy, đâu còn sự trang nghiêm của một đám tang mà người nằm trong quan tài lại là một cụ tổ’.
 
Nhừng người đi đưa tang thì thật lố lăng, kệch cỡm. Họ đến đám tang đâu phải vì thương tiếc một con người từ giã. cõi đời mà họ đến đây đế khoe khoang, đế trưng diện... Cô Tuvết không buồn vì cái chết của cụ tố mà vui mừng vì có dịp “mặc bộ y phục Ngây thơ - cái áo dài voan mỏng” và “đội một cái mủ mấn xinh xinh”. Đồng thời, “trên mặt lại hơi có vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt một nhà có đám”. Cậu Tú Tân thì bấm máy ảnh lia lịa. Những người bạn của cụ cố Hồng thì “ngực đầy những huy chương như: Bắc Đẩu bội tinh, Long bội tinh, Cao Mên bội tinh, Vạn Tượng bội tinh, vân vân”. Trong đám tang mà những “trai thanh gái lịch” “chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau”. Cụ cố Hồng thì ho khạc, mếu máo và ngất đi. ông Phán mọc sừng cũng khóc to “Hứt! Hứt ! Hứt !”, “Ông ta khóc quá muốn lặng đi thì may có Xuân đỡ khỏi ngã. Nó chật vật mãi cũng không làm cho ông đứng thẳng lên được. Dưới cái khăn trắng to tướng, cái áo thụng trắng loè xoè, Ông Phán cứ oặt người đi, khóc mãi không thôi”. Còn Xuân tóc đỏ, một kẻ có công làm cho cụ tố chết thì được mọi người coi như một ân nhân. Là một kẻ vô học, vô lại mà gia đình cụ cố Hồng lại phải mang ơn: “Cụ bà hớt hải chạy lên, rồi cảm động hết sức, vì nó là phần của ông Xuân, ông Xuân đốc tờ, cố vấn báo Gõ mõ, nên mới có sự long trọng như thế thêm cho đám ma”. 
 
Một đám tang với đủ mọi loại người, nhốn nháo, ô hợp. Tất cả đến đế cố phô trương cái hiếu, cái giàu sang phú quý của mình. Càng tỏ ra có hiếu thì lại càng bộc lộ sự bất hiếu, sự mất đạo đức của mình. Qua đó, tác giả bóc trần bản chất xấu xa, bỉ ối, giả dối, lố lăng, kệch cỡm của nhừng kẻ thuộc tầng lớp “thượng lưu” trong xã hội nửa .thực dân và phong kiến lúc bấy giờ.
 
Nghệ thuật gây cười của Vù Trọng Phụng thật phong phú. Một trong nhừng thủ pháp quen thuộc được Vũ Trọng Phụng sử dụng là phát hiện những chi tiết đối lập nhau gay gắt nhưng cùng tồn tại trong một sự vật, một con người để từ đó làm bật lên tiếng cười. Ngoài ra, các thủ pháp cường điệu, nói ngược, nói mỉa... đều được sử dụng một cách đan xen linh hoạt. Bằng cốc biện pháp nghệ thuật đặc sắc, tác giả đã phê phán những lớp người chạy theo lối sống Tâv hoá, đi ngược lại truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời, qua đoạn trích nói riêng, tác phẩm nói chung, tác giả đã mỉa mai, châm biếm sâu cay bộ mặt thật của bọn thực dân trên đất nước ta lúc bấy giờ.
Nguồn:
hanh phuc cua mot tang gia