Phân tích nhân vật Thuý Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Thứ sáu , 14/04/2017, 14:59 GMT+7
Em hãy phân tích và cảm nhận về nhân vật Thuý Kiều để thấy được những phẩm chất tốt đẹp cũng như những tấn bi kịch cuộc đời của Kiều.
Truyện Kiều của Nguyễn Du là một kiệt tác nhưng cũng là một hiện tượng phứt tạp. Từ lúc ra đời đến nay có nhiều đánh giá khác nhau về Truyện Kiều, nhất là nhân vật Kiều. Có những nho sĩ đã quê phán Kiều một cách gay gắt.
 
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa Đoạn trường cho đáng kiếp là tâm Bán mình trong bấy nhiều năm Đổ đềm chữ hiếu mà lầm được ai. (Nguyễn Công Trứ)
 
Thế nhưng trong tác phẩm vãi Giác Duyên vừa than thở vừa ca ngợi Thúy Kiều:
 
Người sao hiểu hết đủ đường
Kiếp sao rặt những đoạn đường thế thôi?
 
Chúng ta, người đọc hôm nay đồng tình với những nhận định ấy của vãi Giác Duyên. 
 
Trước hết cần tìm hiểu những khái niệm hiếu và nghĩa trên.
 
Chữ hiếu cũng như chữ nghĩa là hai khái niệm cơ bản trong học thuyết Nho giáo của Khổng Tử khi đêm ra bàn xét, đánh giá về đạo đức của một người. Nội hàm của khái niệm rất sâu xa nhưng cũng có hiểu đơn giản rằng: Hiếu là tình thương yêu, sự chăm sóc của con gái dành cho cha mẹ, đó cũng được xem là một nghĩa vụ thiêng liêng. Còn chữ nghĩa hiểu một cách thông thường là: sự đối sử tốt đẹp công bằng, có trước có sau, quan tâm, giúp đố người khác, làm việc có ích cho đời. Đạo hiếu đạo nghĩa trở thành truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc. Còn đoạn trường có nghĩa là khổ đau. Như vậy vãi Giác Đuyên đã bằng hai câu thơ lục bát đã khái quát được cuộc đời, số phận và phẩm chất của Kiều.
 
Hiếu nghĩa - phẩm chất tốt đẹp của nàng Kiều,
 
Chữ hiếu:
 
Kiều đẹp cả người lẫn nết, từ nhan sắc đến tài trí nhưng phẩm chất bao giờ cũng là vẻ đẹp đáng quí nhất. Phẩm chất cao dẹp của Kiều đã lay động trái tim, gợi sự cảm dộng ở người đọc đó là: hiếu nghĩa đủ đường.
 
 
Chữ hiếu của Kiều dược thể hiện rất rõ qua hành động bán mình chuộc cha. Trong cảnh gia biến Kiều đã suy nghĩ:
 
Duyên hội ngộ, đức cù lao,
Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn.
Đệ lời thệ hải minh sơn,
Làm con trước phải đền ơn sinh thành.
Dứt tình nàng mới hạ tình,
Dễ cho để kiếp bán mình chuộc cha.
 
Như vậy là Kiều đã cứu nạn được cho gia đình, nàng đã làm tròn đạo hiếu và dây là sự hi sinh rất lớn. Vì Kiều đã hi sinh tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc và cả cuộc đời mình. Dù ai nghiêm khắc đến đâu cũng cảm phục trước đức hi sinh vì chữ hiếu này. Bà sư Tam Hợp nói:
 
Lấy tình thâm trả nghĩa thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời.
Hồn Đạm Tiên cũng bảo:
Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu cứu người là thân.
 
Hi sinh gần như hết cuộc đời cho cha mẹ nhưng Kiều luôn ân hận là chữ hiếu chưa tròn. Do đó, trong mười lăm năm lưu lạc sống trong cảnh đời cay nghiệt oan trái, không lúc nào Kiều nguôi nhớ thương lo lắng cho cha mẹ:
 
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giời
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa ôm?
 
Sau này ở lầu xanh, lúc lấy Thúc Sinh, rơi vào tay Hoạn Thư, ở với Từ Hải, lúc ở với Giác Duyên không lúc nào Nguyễn Du không tả nỗi nhớ của Kiều về cha mẹ.
Việc Kiều khuyên Từ Hải ra hàng cũng là muốn được trở về với cha mẹ. Sau này được gặp lại cha mẹ Thúy Kiều mừng như được sống lại:
 
Được rày tải thế tương phùng
Khát khao đã thỏa tấm lòng bấy nay.
 
Nguyễn Du tả Kiều như một đại thiếu nữ, một tấm gương lớn vì đạo hiếu và đã để lại bao niềm thương mến ở người đọc.
 
Đối với gia đình Thúy Kiều sống rất tròn dạo hiếu còn đối với cuộc đời, nàng là người sống rất có tình nghĩa. Chữ nghĩa trước tiên là dối với Kim Trọng, tình yêu giữa Thúy Kiều với Kim Trọng rất sâu nặng, nên chữ nghĩa của nàng đối với Kim Trọng rất cao cả. Kiều đã thề nguyền với Kim Trọng nhưng do cảnh ngộ tai biến, Kiều không giữ dược lời hứa nên vô cùng đau khổ:
 
Nợ tình chưa trả cho ai,
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.
Niềm riêng riềng những bàng hoàng,
Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn.
 
Dù không giữ được lời hứa nhưng Kiều cũng đã thu xếp nhờ Vân thay mình:
 
Tình sâu mong trả nghĩa dày, 
 
Nghĩa là: chữ nghĩa với chàng Kim không tròn nhưng phần nào Kiều đã trả được. Tuy vậy lúc nào Kiều cũng mặc cảm tội lỗi, nghĩ mình bội ước với chàng Kim.
Cũng như chữ hiếu, chữ nghĩa cũng làm cho Kiều thao thức bao nhiêu năm trời lưu lạc. Cách xa hơn mười mấy năm rồi Kiều vẫn còn nghĩ đến Kim lang:
 
Tiếc thay chút nghĩa củ càng,
Dẫu lìa ngỏ ý còn vương tơ lòng.
 
Thúy Kiều không chỉ có tình nghĩa với chàng Kim, Thúc Sinh, bà quản gia, vãi Giác Duyên và cả Hoạn thư. Trong cảnh báo ân oán, nàng phân xử công minh rạch ròi trọn tình trọn nghĩa khiến cho mọi người phải đồng tình ca ngợi:
 
Oán thỉ trả oán ân thì trả ân
Đã nên có nghĩa có nhân
Trước sau trọn vẹn xa gần ngợi khen.
 
Một con người có phẩm hạnh đáng quí như thế xứng đáng là một tấm gương để người đời noi theo và xứng đáng hưởng nhiều hạnh phúc.
 
Nỗi đoạn trường của Kiều
 
Thế nhưng sống trong xã hội bạc ác, Thúy Kiều trở thành một món mồi ngon bị lừa lọc, vùi dập thê thảm, sống một kiếp đoạn trường đầy cay đắng. Cuộc đời nàng quả là một chuỗi những bi kịch đau thương. Tuy nhiên hai bi kịch lớn nhất ở Kiều là bi kịch tình yêu và bi kịch bị chà đạp nhân phẩm.
 
Bi kịch tình yêu
 
Tình yêu Kim - Kiều là tình yêu lí tưởng rất xứng đôi vừa lứa:
 
Người quốc sắc kẻ thiên tài,
 
Họ yêu nhau bắt đầu lá sự rung động của con tim chủ động đến với nhau đó là tình yêu hoàn toàn tự do và tự nguyện. Họ dành cho nhau những tình cảm say đắm nồng nàn nhất:
 
Hoa hương còn tỏ thức hồng
Đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu.
 
Và họ dành cho nhau sự trân trọng yêu kính, nguyện suốt đời kết tóc xe tơ:
 
Tiên thề cùng thảo một chương
Tóc mây một món dao vàng chia đôi.
Vầng trăng vàng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
 
Có thể nói đó là một mối tình lí tưởng, tự do đầy hạnh phúc và cũng đầy khác khao về một tương lai đầm ấm trọn đời bên nhau. Thế nhưng “giữa đường đứt gánh tương tư, trâm gãy bình tan, nước chảy hoa trôi lỡ làng”. Kiều chơi vơi hụt hẫng đau đớn đến tan nát, tưởng như mình đã chết đi rồi. Lời của Kiều như vọng về từ. thế giới bên kia:
 
Hồn còn mang nặng lời thề,
 
Giọng thơ u uất nghẹn ngào diễn tả tâm trạng vô cùng đau đớn và cuối cùng Kiều gọi tên Kim ra rồi ngất lịm trong nước mắt khổ đau:
 
ơi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.
Cạn lời hồn ngất máu say,
Một hơi lạnh ngắt, đôi tay giá đồng.
 
Tình yêu đẹp ấy đã tan vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Sau này ở màn tái hợp, họ gặp nhau nhưng không thể đến với nhau, đó là tình yêu không bao giờ đưa đến hôn nhân nên vô cùng đau khổ. Bi kịch tình yêu này có ý nghĩa tố cáo rất lớn.
 
Bi kịch nhân phẩm
 
Kiều là người giàu lòng tự trọng, luôn ý thức về nhân phẩm nhưng cuối cùng bị chà đạp về nhân phẩm. Lúc ở nhà của bố mẹ, chị em Kiều sống rất kín đáo trong một gia đình nề nếp:
 
Êm đềm trướng rũ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
 
Khi gặp Kim Trọng trước lời dò hỏi ý tứ, Kiều khôn khéo và kín đáo trả lời:
 
Ngần ngừ nàng mới thưa rằng:
Thói nhà băng tuyết chất hằng phỉ phong.
Dù khi lá thắm chỉ hồng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
Xót lòng nặng liễu vì hoa,
Trẻ con đã biết đâu mà dám thưa.
 
Cách trả lời ấy cho thấy tâm hồn Kiều rất trong sáng, giàu lòng tự trọng, luôn ý thức về nhân cách. Sau này tình tứ với chàng Kim, thấy chàng hay lả lơi thì nàng nhắc:
 
Đã cho vào bậc bô kinh,
Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu.
Ra tuồng trẽn bộc trong dâu,
Thì con người ấy ai cầu làm chi.
 
Khiến cho Kim Trọng thêm trọng thêm nể mười phần. Thế mà sau này nàng phải sống trong cảnh nhục nhã ê chề ở lầu xanh, tủi nhục đau đớn không thể nào tả xiết:
 
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phong gấm rũ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân.
 
Rồi nàng tự đay nghiến cho số kiếp của mình, cho số phận bất công đôi với người tài hoa.
 
Đã cho lấy chữ hồng nhan,
Làm cho cho hại cho tàn cho cân.
Đã đẩy vào kiếp phong trần,
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi.
 
Nhưng câu đau đớn nhất trong bi kịch này của nàng là câu:
 
Thân lươn bao quản lấm đầu,
Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.
 
Không có nổi đau nào lớn hơn khi con người trong danh dự, luôn ý thức về nhân phẩm mà cuối cùng phải tuyên bố từ bỏ nhân phẩm, đúng là mất danh dự là mất tất cả. Bi kịch này còn có giá trị tố cáo mãnh liệt xã hội phong kiến thối nát và thể hiện được nỗi lòng thông cảm sâu sắc của nhà thơ.
 
Trong cảm hứng về thân phận người phụ nữ tài hoa bạc mệnh, nhãn quan hiện thực nhạy bén đã giúp cho Nguyễn Du nhận thấy chế dộ phong kiến thối nát đã gây ra bao đâu khổ cho con người nên ông
Nguồn: