Phân tích Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Thứ ba , 17/10/2017, 15:31 GMT+7
Phân tích tác phẩm truyện ngắn Chí Phèo: là một tiếng vang lớn, đánh dâu một sự kiện mới trong sự nghiệp sáng tác văn học của Nam Cao. Sau một thời gian bôn ba với dòng văn học lãng mạn, Nam Cao xuất hiện trong nền văn học hiện tượng điển hình tuy có chậm chạp hơn Khái Hưng, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố... nhưng không vì thế mà làm giảm đi chấn động văn học đáng kể với nghệ thuật cầm bút của Nam Cao.
Khác với lối viết của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao không đi sâu vào vấn đề sưu thuế, tô tức... mà đánh vào hiện tượng tâm lí của sự lưu manh hóa ở nông thôn, từ dó kết án đanh thép cái xã hội khôn nạn, tàn bạo đã tước mất quyền làm người, đẩy người nông dân vào kiếp sông tối tăm thú vật, cướp đi của họ cả bộ mặt, cả linh hồn người.
 
Mở đầu tác phẩm Chí Phèo là sự tha hóa đạo đức của một con người ở tận đáy cặn bã của xã hội bằng tiếng chửi độc thoại của một kẻ sav khướt. “Hắn vừa đi vừa chửi” - Hình ảnh của một “cu be” của làng Vũ Đại ngật ngưỡng trong men rượu triền miên từ sáng tới tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, từ năm này qua năm khác. Và cứ thế, “hắn” tàn phá sức khỏe, tàn phá tuổi thanh xuân, tàn phá thể xác và tâm hồn cũng chính bằng rượu. Sự ra đời của hắn chẳng có gì vẻ vang “trần truồng và xám ngắt trong một váy đụp để bèn lò gạch bỏ không”. Rồi sau một loạt bước truân chuyên “hắn” bị tên Bá Kiến, một tên gian hùm đẩy vào tù từ nỗi ngờ vực ghen tuông với một mụ đàn bà. Sau khi ở tù về, Chí bắt đầu một cuôc sông mới với cái đầu “trọc lốc” và bộ mặt của kẻ lưu manh. Vẫn chưa thỏa mãn, tên cường độ lại diễn tiếp vở kịch, biến một tên tù tội mãn hạn thành tay chân đắc lực của mình để nhằm mục đích cá nhân trừng trị những thành phần “bất hảo”, “gai góc’ mà chỉ những kẻ như Chí phèo mới giải quyết được.
 
Chí Phèo, con người đáng giận hay đáng thương? Anh đã không chứng minh được sức mạnh và nghị lực của mình để vượt qua bão táp của cuộc đời mà càng ngày càng lún sâu vào vòng tội lỗi bùn nhơ để rồi ngay cái khi anh gượng dậy thoát ra khỏi sự tối tăm ây cũng là lúc cánh cửa cuộc đời khép lại sau bao đau thương và nước mắt. Nam cao đã xây dựng nên một Chí Phèo với cái nghề mà trên thế gian này không một kẻ nào dám làm, đó là rạch mặt ăn vạ để sống qua ngày. Sau khi tù về, Chí bị bỏ rơi. 
 
Anh cô đơn lạc loài giữa cái làng Vũ Đại ngoãnh mặt quay lưng. Ai cũng nghĩ rằng “hắn” chửi nhưng trừ mình ra. Và từ một người lương thiện hiền như đất “hắn” trở thành một con quỷ đầy thú tính. Cái xã hội tàn bạo đồng lõa với bọn cường hào, lí tưởng dã đẩy người nông dân cùng đinh mạt hạng vào con đường cùng quẫn, bế tắc, cướp đi quyền làm người lương thiện của họ. Ban đầu là sự thay đổi về nhân hình “Hắn về lớp này không khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng sắng đá. Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cao trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết...” rồi tiếp theo là sự thay đổi về nhân tính, suốt ngày triền miên trong nước rượu, chửi bới, rạch mặt ăn vạ... Những trò leí bịch ấy cứ điệp đi điệp lại, hay đó là một cách giao tiếp của kẻ cô đơn trước sự thờ ơ của những người xung quanh? Cả cái làng Vũ Đại, họ xem như không có sự tồn tại của Chí, chẳng một ai lên tiếng. Ví thử có ai chạm tới Chí, chắc hẵn những lần cào mặt ăn vạ sẽ không có hav chí ít cũng giảm bớt những cơ hội thực hiện. Cuối cùng, chỉ có hai con chó nhà Bá Kiến và anh là kẻ thứ ba. Anh khao khát được hòa nhập với mọi người nhưng lại nhận được sự trả lời trong im lặng tăm tối để rồi anh đành bán rẻ cuộc đời trong chiếc cũi sắt của Bá Kiến sắp sẵn tháng ngày chà đạp thể xác và tâm hồn biến nó thành hoang mạc cháy bỏng của rượu, nước mắt và đau thương.
 
 
Có thể nói cái độc đáo của Nam Cao chính là để những con người dường như là “dị dạng” về hình thức mang một tâm hồn, một sức sông mạnh mẽ khẳng định bản chất tốt đẹp ngay khi nhân hình bị tàn phá. Đó chính là khát vọng trở thành người lương thiện của Chí Phèo trước nỗi đau bị tước mất quyền làm người. Nam cao muốn nhấn mạnh sức gợi cảm của nhân vật Chí Phèo chính ở chỗ: anh ta muôn trở thành con người hoàn toàn ngược lại với cái thằng đang ăn vạ, rạch mặt, vừa ăn cướp vừa la làng hiện tại; khát khao cưỡng lại sự biến dạng, khát khao một sự đổi đời. Dữ dội và nhiều tàn tác, Chí Phèo đã trụ lại với đời cùng hi vọng mong manh trong tâm hồn nặng gâ'p trăm ngàn lần hành động của mình: đó là thèm khát được làm người lương thận. Chí Phèo là đứa con Nam Cao đã thả cho chết đi sông lại nhiều lần, trôi lên nhào xuống trong cơn bão táp cuộc đời. Và cũng nhiều lần, tác giả nặng lời lăng mạ Chí với những lời nguyền rủa, mỉa mai, đùa cợt phơi bày lên mặt giấy sự chao đảo tính người, tính vật. Sau cùng của những lời thóa mạ, nguyền rủa mỉa mai một cách căm hờn ấy là những dòng nước mắt lấp lánh, một trái tim nhân hậu, một tấm lòng, một nhân cách lớn. Chiều sâu nhân đạo của ngòi bút Nam Cao là đã phát hiện ra nơi con người Chí một bản chất lương thiện. Khác với Chí sau khi tù về là kẻ lưu manh, nát rượu, thời trai trẻ Chí là một thanh niên hiền như đất với ước muôn giản dị “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Vào lúc đó Chí còn rất trẻ nhưng đã ý thức được về tình yêu chân chính và thói dâm dục xấu xa nên khi bóp đùi cho ba “hắn” chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì. Nước mắt mặn chát chảy vào trong, lòng quặn đau trước một kiếp người, Nam Cao đã xây dựng thành công nhân vật Chí Phèo. Một con người không hoàn toàn xấu. Anh chỉ là nạn nhân của xã hội phong kiến và chính anh là nạn nhân như những con người cùng khổ cực bị áp bức, bị đẩy vào bước đường của hiện tượng lưu manh hóa một Binh Chức, Năm Thọ... Tiếng kêu của Chí Phèo như đang còn văng vẳng đâu đây “Ai cho tao làm lương thiện?” Thờ ơ và lạnh nhạt vô tình đến vô tâm trước tiếng kêu cứu của những người cùng cảnh khổ, cái làng Vũ Đại đã đẩy anh một mình chông lại nanh vuốt của bọn quan lại trong xã hội phong kiến mục ruỗng thời bây giờ. Tuyệt vọng trong mơ ước trở về làm người lương thiện, Chí Phèo không còn lối thoát nào khác. Hắn xót xa, căm giận kẻ đã gây nên sự bất hạnh của mình. Và hành động cuối cùng trên đời sông Chí cũng thực hiện trong men rượu.
 
Có lẽ nhờ men rượu mà Chí phèo đã làm những việc lẽ ra không nên làm. Thế nhưng, có những lúc thứ nước cay đó cũng không làm Chí say hẳn. Ngay cả câu chửi đầu tiên “hắn” cũng cố tìm cho mình một đôi thủ để chửi. Ban đầu là chửi trời, rồi chửi đời. vẫn không hề gì. “Hắn” chửi tất cả làng Vũ Đại. Hắn chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Vẫn chưa được, “hắn” lại chửi chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo. Chí đã bế tắc, đã cùng quẫn tối mức tự đi tìm nguyên nhân nỗi khổ của mình nhưng không làm gì được với nỗi oan khuất, không biết bâu víu vào đâu. Tình cảnh dở khóc dở cười khiến Chí suốt ngày chửi “như những người say rượu hát”. Thế rồi, Chí lại hồi tưởng lại “hắn nhớ mang máng rằng có lần hắn hai mươi, rỗi hắn đi ở tù, rồi hình như hắn hăm nhăm không biết có đúng không? Bởi vì từ đấy hắn không còn ngày tháng nửa”. Đến cảnh uống với Tư Lãng, Tư Lãng say khướt bò ra sân hỏi Chí rằng “Người ta đứng lẽn bằng cái gì”, thì Chí vẫn còn tỉnh để vần ngửa Tư Lãng ra vuốt râu mấy cái rồi về. Trên đường về gặp Thị Nở thì Chí tỉnh hẳn “say sưa nhìn và run run, rón rén lại gần Thị Nở, lẳng lặng ngồi xuống bền sườn thị...” Những hành động đó chứng tỏ Chí không hề say. Tới hồi bưng bát cháo hành của Thị Nỏ' thì Chí lại “bâng khuâng”, “và cái gì nửa giống như là ăn năn”. Ân tình với Thị Nỏ làm thức tỉnh anh hoàn toàn, trong lòng buồn bã, tiếc nuôi một quãng đời trong trẻo đã qua ở độ tuổi hai mươi. Và ý chí phục thiện bỗng ùa đến sau tấm chân tình của Thị Nở. Chí thèm khát một cuộc sông giản dơn với Thị “Hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng với Thị Nở như với mẹ. Và có lúc hắn ngẩn nhìn mà lo. Trời ơi! Hắn thèm lương thiện... Thị Nở sẽ mở đường cho hắn” và ao ước cuộc sống của người tỉnh táo “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ”. Hơn bao giờ hết Chí cần đến bàn tay ân cần, âu yếm của Thị, Chí cần sự vỗ về, cần được che chở dựa dẫm vào Thị Nở một niềm tin để vượt qua bao sóng gió cuộc đời và những chỗ lồi lõm trong tâm hồn. Thị Nở ngã vào lòng Chí như ánh nắng bên ngoài rực rỡ, như tiếng chim ríu rít, như những âm thanh của người đi chợ, của anh chài thuyền gõ mái chèo thức tỉnh con người Chí tìm về với bản chát ban sơ lẩn khuất đằng sau cái nham nhở phơi bày.
 
Khác với Hộ trong Đời thừa, Dần trong Một đám cưới, Thứ trong Sống mòn, Điền trong Trăng sáng, Chí phèo tồn tại trong ta với một chân dung méo mó dị dạng, với một nỗi buồn trách móc, với nỗi oan khuất muốn được tỏ bày. Đôi với lão Hạc, một viên ngọc được gọt dũa công phu mang nét đẹp tinh khiết đến thanh thiện thì Nam Cao không nỡ cho lão lấm bùn nhơ. Nhà văn đã bế lão qua cơn giông bão cuộc đời để lão không bị ô uế cuốn trôi theo dòng như bao đứa cơn khác. Ngược lại Chí Phèo là đứa con mà Nam Cao ba lần bảy lượt ghìm xuống tận cùng của cái xã hội mục ruỗng đến độ không thể nào ngóc đầu lên được. Rồi chính từ đỉnh điểm tột cùng của đau thương nước mắt và tội lỗi ấy, nhà văn đã bật khóc cho sự bất công đã đày đọa Chí Phèo đớn đâu như thế. Con người ta không thể chịu đựng được những gì mà người ta không dủ sức. Và ít nhiều nhà văn đã trả lại công lí cho Chí trước khi Chí đi vào cõi bâ't tử. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng, anh đã tự cãi ý tác giả đi theo một con đường khác, đã quên rẽ vào nhà Thị Nở để đâm chết bà cô mà đến thẳng nhà Bá Kiến - Chí là thứ sinh vật run rẩy, khiếp sợ hay là kẻ có quyền được đòi lại quyền làm người?
 
Cái chết của Bá Kiến chúng ta hả hê, hắn đã sập ngay chính cái bẫy mà mình đã giăng lên. Màn kịch kết thúc kết liễu sự sống hèn hạ, hiểm độc của tên quan nham hiểm của làng Vũ Đại. Nhân vật Bá Kiến đại diện cho giai cấp thông thị của làng xã Việt Nam và đầy rẫy những tên tay sai nhơ nhớp. Biết cách thâu tóm những thành phần bất hảo, quan điểm của Bá Kiến là “mềm nắn, rắn buông”. Ớ cá' làng ấy, đô" ai dám chọi lại với cụ Bá nhưng cụ Bá lại sợ cái thằng “cố cùng liều thân”, hay đó là ván bài cụ thâu tóm để giật dây những con rối ương gàn ngang ngạnh như Chí? Trước mặt cụ Bá, kẻ nào cũng vâng vâng, dạ dạ “chỗ này thưa cụ, chỗ kia lạy cụ” đã nói lên vai vế bôn đời làm lí trưởng của cha con nhà Bá Kiến. Từ đó mà thấy được trong chặng đời bốn thời ấy đã có biết bao nhiêu con người như Chí phải chết dưới tay bọn quan lại cường hào, có bao nhiêu máu và nước mắt đã đổ xuống cho sự giàu có xa hoa, dâm ô? Trong tầng lớp quan lại, Bá Kiến có không ít kẻ thù địch nhưng những kẻ địch thù Bá Kiến thì cũng lắm. Thói đời “trâu buộc ghét trâu ăn”. Cha con họ vẫn trụ được với làng Vũ Đại nhờ vào cái “khôn róc đời” của cụ. “Cụ mà chết đi rồi, chúng nó lại không cho ăn bùn”. Những khi gặp sự cố, cụ Bá vuốt giận bằng tiếng cười của Tào Tháo đa nghi và đa mưu. Trong lòng sôi sục, phỉ báng nhưng Bá Kiến lại thốt ra những câu xanh rờn, mát mẻ.
 
- Anh Chí ơi? Sao anh lại làm ra thế?
- Về bao giờ thế! Sao không vào tôi chơi?...
- Anh chí đi đâu đấy?
 
Bấy nhiêu đó thôi cũng có đủ cái hung hăng, hống hách của Chí dịu xuống. Cụ Bá là một tay sành điệu về tâm lí: “một người khôn ngoan thì chỉ bóp đến nửa chừng. Hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn” và những chiến thuật tinh vi “Hãy đập bàn đập ghế, đòi cho được năm đồng nhưng được rồi thì lại vất trả lại năm hào vì “anh túng quá”. Bằng ngòi bút sắc sảo của mình, Nam Cao đã bóc trần bộ mặt đểu cáng của bọn cường hào trong xã hội xuống cấp kia. Nếu Chí Phèo là hình tượng điển hình cho chính diện thì Bá Kiến lại là hình tượng điển hình cho phản diện. Cha con Bá Kiến là hiện thân của cái ác, là nguyên nhân xô đẩy Chí Phèo rơi vào tình trạng bi kịch, ơ đây, Nam Cao đã bộc lộ rõ thái độ căm hờn, phẫn nộ đồng thời tổ cáo, phê phán tội ác tày trời của tầng lớp phong kiến thống trị của Chí Phèo, biến những con người như Chí đi từ mụ mị đến sa đọa. Bá Kiến đã luộc Chí chết dần trong cái vạc dầu hèn hạ, ỏ đó Chí quằn quại, cố vùng thoát khỏi nguy cơ mục ruỗng toàn bộ nhân cách. Cuối cùng thì cái gậy của Bá Kiến đã đập ngay vào lưng hắn, kết thúc mọi trò lô" và mưu mô xảo quyệt. Đó cũng là tiếng nói là nguyện vọng của Nam cao, tất yếu với cái chết của Bá Kiến kết thúc một thời đại phong kiến suy đồi.
 
Ngày xưa Nguyễn Du đã thiết kế nên một mỹ nhân tuyệt hảo là nàng Kiều với ái đẹp “nghiêng nước nghiêng thành”, “hoa ghen thua thắm, liểu hờn kém xanh” thì nay Nam Cao lại vẽ nên một Thị Nở để đời với dung mạo khiến cho “ma chê quỷ hờn”. Cái xấu của Thị Nở bền vững như cái kiềng ba chân không thể lung lay được: nghèo, xấu, ngớ ngẩn. Nam Cao đã hạ bút chốt chặt ba đặc điểm cô" hữu đó về vẻ đẹp của người đàn bà điển hình của làng Vũ Đại. Với “cái khối tự nhiên thô mộc ấy” thị coi như đã bị ế chồng. Thị vô tâm cũng chẳng thèm để ý đến việc có chồng hay không. Nếu không ngớ ngẩn chắc hẳn Thị Nở đã không “ngồi tênh hênh” “tựa lưng vào gốc chuối” há hốc mồm lên trăng mà ngủ để chủ thể của cái “đen và méo mó trên đường trăng nhễ nhại”, “xệch xạc về bền phải”, “xệch xạc về bên trái, thu gọn vào rồi lại dài loang ra, xé rách ra vài chỗ” nhăn trán suy nghĩ, hành động rồi “lẳng lặng ngồi xuống bên sườn thị”.
 
Phép nhiệm màu nào của tự nhiên đã đẩy đưa Thị Nở đến với Chí Phèo, ánh trăng hay là trái tim nhân hậu của Nam Cao đang run rẩy trước, một kiếp người? Nam Cao không nỡ để cho Chí Phèo chết mà không hề được ném giọt mật ngọt của thế gian. Thị Nở đến làm tan vỡ đông băng tuyết trong con quỷ nát rượu, ương gàn kia. Nàng đã soi sáng, đánh thức Chí thoát khỏi cái mụ mị u mê. Thế mới biết được vai trò của “cô ả” ngớ ngẩn dở hơi dở hám của Nam Cao quan trọng như thế nào! Cùng với Chí Phèo, tên tuổi Thị Nở đi vào bất hủ trong nền văn học Việt Nam và cùng đồng hành hiện diện trong đời sông như những nhân vật điển hình. Thị là người vô tình cứu Chí thoát khỏi cơn rồ dại mà vô tâm không để ý tới nanh vuốt của Bá Kiến hay định kiến làng Vũ Đại. Đằng sau cái thô kệch, xuề xòa kia là một phẩm chất “nhân chi sơ, tính bản thiện” chưa bị tha hóa. Thị đã bứt ra khỏi cái tầm thường bề ngoài mà tiến đến vị trí của một phụ nữ đáng trân trọng. Thị cũng không hẳn là con người vô tư quá mức, cũng từng “lăn ra, lăn vào” trằn trọc nhớ lại “việc lạ lùng tối qua”. Ớ Thị rồi dậy một tấm lòng nhân hậu “cái thằng liều lĩnh ấy kể ra thì đáng thương, còn gì đáng thương bằng đau ốm mà nằm còng queo một mình...”. Bát cháo hành của Thị là thứ của cải đầu tiên và cũng là to lớn nhất mà Chí nhận được trong đời và anh đã bật khóc, những giọt nước mắt thánh thót trong ăn năn sám hối, trong xúc động tiếc nuôi. Với tình thương của Thị Nở, khiến Chí khoan khoái cảm thấy trong lòng rất vui. Thị Nở cũng say đắm yêu Chí, họ thật đúng là một “đôi lứa xứng đôi”. Mặc dù không phải là nhân vật chính nhưng Thị Nở là nhân vật nền tảng xây dựng nên biểu hiện tâm lí phục thiện của nhân vật Chí Phèo và là cái bóng của Chí Phèo, là nhân vật không thể thiếu. Đáng tiếc, cái hạn chế của Thị Nở là ở chỗ biết cho, biết nhận nhưng không biết gìn giữ và đấu tranh vì tình yêu. Hay là do bối cảnh xã hội đã khiến cho Nam Cao phổi xây dựng một nhân vật với các -khiếm khuyết như thế? Tuy nhiên đó cũng là hành động chứng minh cho giả thiết “ngớ ngẩn” của Thị. Công lao to lớn của Thị là đã mở ra cho Chí một con đường sông nhưng lại mãi tự hào, kiêu ngạo về những thứ mình đã cho nên vô tình bóp nát mất hi vọng vừa mới lóe lên của Chí Phèo. Rõ khổ. Đâníói ràng Thị mắc bệnh dở hơi, chỉ vừa nghe là bà cô giáo điều Thị đã ngoa ngôn lén với “nhân ngãi” rồi Thị “ngoay ngoáy cái mông đít ra về:. Thị Nở đã vô tinh ngã vào tình yêu của Chí Phèo không toan tính, không vụ lợi rồi lại ngã ra một cách vô tâm không màng tới trái tim vỡ nát của Chí. Tột cùng của tuyệt vạng, Chí hiểu ra rằng cần phải làm gì — đó là giết chết kẻ thù của mình - kẻ đã không cho Chí sông một cuộc sông bình thường với Thị Nở - kẻ đã biến cuộc đời Chí thành ra khôn nạn như thế này.
 
Nhân vật bà cô là nhân vật đại diện cho làng Vũ Đại. Hiển nhiên Chí không thể giết chết bà cô vì Nam Cao đã để Chí đủ tỉnh táo quyết định một hành động đúng đắn cuô'i cùng là giải phóng cái khổ cho những kẻ cùng khổ (cái chết của Bá Kiến). Nhân đạo và nỗi lo đau đáu về tương lai của dân tộc, về cuộc sống của con người đã giúp nhà văn có cái nhìn sắc sảo và tấm lòng đồng cảm xót thương đối với người dân lao động, những con người bị áp bức dưới xã hội cũ.
 
Cái chết của Bá Kiến làm chúng ta thỏa nguyện, còn Chí ta lại buồn thương vì con người đó muôn trở về “hoàn lương” nhưng lại chết yểu. Ba thế lực trong xã hội cũ đã đưa đẩy con người Chí từ tha hóa tới kết cục bi thảm là giai cấp phong kiến - mà tiêu biểu là Bá Kiến, kế đến là nhà tù - tiêu biểu là thế lực của thực dân, và cuối cùng là bà cô Thị Nở - hủ tục và định kiến làng Vũ Đại.
 
Mở đầu tác phẩm là hình ảnh “cái lò gạch cũ” và kết thúc với hình ảnh Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng “thoáng thấy hiện ra cái lò gạch củ bỏ không”, ơ đó có thể một Chí Phèo mới sẽ lại ra đời. Đây là chỗ hạn chế của Nam Cao trong tư tưởng quẩn quanh chưa thoát ra khỏi xu hướng bê tắc, bi quan. Nhà văn chưa tìm ra lôi thoát cho nhân vật của mình, cho người nông dân bị áp bức thông trị trong xã hội phong kiến u tối, tù đọng xưa.
 
Vượt qua những tác phẩm như Lão Hạc, Dì Hảo, Một đám cưới, w... tác phẩm Chí Phèo trở thành kiệt tác, gắn liền với tên tuổi và thành công rực rỡ trong sự nghiệp văn chương của Nam Cao.
 
PHÂN TÍCH Ý NGHĨA NHAN ĐỀ TÁC PHẨM CHÍ PHÈO
 
Truyện ngắn Chí Phèo nguyên có tên là Cái lò gạch cũ (sáng tác năm 1940). Năm 1941, khi lần đầu tiên in tại NXB Đời mới thì áng văn xuôi kiệt tác đó của Nam Cao đã mang một cái tên rất xa lạ với chủ đề của tác phẩm: Đôi lứa xứng đôi. Lê Văn Trương đã tự ý đối tên tác phẩm và đồng thời đã viết một bài tựa về tác phẩm. Năm 1946, khi tác phẩm in lại trong tập Luống cày do Hội Văn hoá cứu quốc xuất bản, tác giả đặt tên lại là Chí Phèo. Một tác phẩm mà có tới ba cái tên khác nhau. Rõ ràng với mục đích khác nhau, tác phẩm đã được đặt tên ba lần như vậy.
 
Trước hết, tác giả đặt tên cho tác phẩm của mình lả Cúi lò gạch củ. Rõ ràng đặt tên như vậy là dụng ý nghệ thuật của Nam Cao. Hình ảnh cái lò gạch cũ đã xuất hiện ở đầu tác phẩm và đến cuối tác phẩm lại cùng là hình ảnh cái lò gạch cũ. Trước cái chết cua Chí Phèo, thị Nở “nhìn nhanh xuống bụng” và “đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch củ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người qua lại...”. Như vậy, cái lò gạch cũ như là một biểu tượng về sự xuất hiện tất yếu của hiện tượng Chí Phèo, góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm: cuộc sống bế tắT, không lối thoát của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Chí Phèo bố chết, chí Phèo con lại ra đời. Cuộc đời người nông dân trước Cách mạng tháng Tám là một vòng luẩn quẩn không lối thoát. 
 
Nhà xuất bản Đời mới tự đổi tên tác phẩm thành Đôi lứa xứng đôi. Mục đích của việc đặt cho tác phẩm một cái tên giật gân và rất xa lạ với chủ đề của tác phẩm là nhằm gây sự tò mò hứng thú cho người đọc và đạt kết quả cao về mặt kinh doanh.
 
Ngay khi tác phẩm mang cái tên Đôi lứa xứng đôi thì quần chúng nhân dân vẫn không gọi theo tên đó. Quần chúng đọc và tự đặt tên cho tác phẩm là Chí Phèo. Năm 1946, nhận rõ được ý nghĩa tên Chí Phèo mà nhân dân đã gọi nên khi in lại trong tập Luống cầy Nam Cao quyết định đặt lại tên cho tác phẩm là Chí Phèo. Tên tác phẩm cũng là tên nhân vật chính. Điều đó đã mang ý nghĩa thật sâu sắc. Đó là bi kịch số phận của người nông dân bị bần cùng hoá, lưu manh hoá, bị từ chối quyền làm người lương thiện.
 
Qua ba lần đối tên, cuối cùng tác phẩm lấy tên là Chí Phèo. Nam Cao đã rất có lí khi đặt tên tác phẩm là Chí Phèo bởi chỉ riêng cái tên thôi cùng đã góp phần làm nổi bật chủ đề.
Nguồn:
phân tích chí phèo