Phân tích tác phẩm Đập đá ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh

Thứ hai , 01/05/2017, 21:36 GMT+7
Phan Châu Trinh thì khác hẳn. Là một nhà cách mạng lấy việc giải phóng dân tộc làm lẽ sống, nên trước những nỗi gian nan đau khổ, giữa cuộc đời tù đày cơ cực, ngày ngày phải xách búa đi đập đá - xa quê hương, xa đồng chí không một lời an ủi dịu hiền - mà ông vẫn khẳng khái, coi đó chỉ là một sự thử thách ý chí mình

A. Những điểm cơ bản của tác phẩm Đập đá ở Côn Lôn

Với những bài thơ Đường luật chúng ta có thể kẻ theo khung hình dưới để tìm hiểu nghệ thuật và nội dung trước khi phân tích.

Tên gọi

Thơ

Nghĩa thực

Nghĩa suy diễn

Nghệ thuật

Đề

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn. Lừng lẫy làm cho lở núi non.

- Chàng trai đứng giữa núi đầy đá.

- Chàng trai ngạo nghễ, lẫm liệt đứng giữa bao cam go, thử thách.

- Ngoa dụ được dùng ở câu 2.

Thực

Xách bũa đánh tan năm bảy đông. Ra tay đập bể mấy trăm hòn.

- Tư thế và kết quả của việc đập đá

- Đã vượt qua bao nhiêu khổ cực, gian lao nhờ vào nghị lực

- Phép đối và ngoa dụ

Luận

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi. Mưa nắng càng bền dạ sắt son.

Khổ cực không thể làm mềm lòng người có kinh nghiệm sống.

Người dạn dày sương gió với lòng trung kiên thì càng khó khăn càng vững chí.

- Phép đối và từ tượng trưng, biểu hiện.

Kết

Những kẻ vá ười khi lỡ bước Gian nan chi kể việc con con.

- Chuyện khổ cực chỉ là chuyện nhỏ đối với người có chí lớn.

- Người mưu cầu việc lớn thì ở tù chỉ là chuyện nhỏ.

- Dùng điển tích bà Nữ Oa đội đá vá trời.

B. Phân tích tác phẩm Đập đá ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh

I. PHAN CHU TRINH tự là Tử Can, hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu là Hy Mã, người làng Tây Lộc, huyện Tuyên Phước, tỉnh Quảng Nam, sinh vào tháng tám năm Nhâm Tuất (1872). Thân phụ ông là Phan Văn Bình theo nghề võ và đã chiến đấu tích cực trong hàng ngũ cần vương, thân mẫu là Lê Thị Chung, một người đàn bà đảm đang và có nhiều đức hạnh.

Năm 1900, ông thi đậu cử nhân, năm 1901 ông thi đậu luôn Phó bảng và năm 1902 ông được nhậm chức Thừa biện Bộ Lễ tại triều đình Huế.

Năm 1905, ông làm giấy từ quan rồi bắt đầu hoạt động chính trị cùng với các Ông Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Cán v.v ... Ông bí mật sang Trung Hoa để nghiên cứu về quốc kế dân sinh và đã gặp Phan Bội Châu tại đây. Sau đó hai ông lại cùng sang Nhật. Ở đó chừng 10 tháng, Phan Chu Trinh trở về nước.

Năm 1908, nhân có nhiều cuộc biểu tình chống thuế tại Trung Kì, thực dân Pháp liền buộc ông đã nhúng tay vào việc đó, bắt giam ông cùng với Trần Quý Cáp. Sau đó chúng đày ông ra đảo Côn Lồn. Bài thơ Đập đá ở Côn Lôn ra đời trong hoàn cảnh ấy.

Phân tích tác phẩm Đập đá ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh

II. Trước Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, đa số các văn gia thi sĩ, mỗi khi gặp những cảnh sa cơ, lỡ vận thường có ba thái độ:

Hoặc là tin vào sự biến dịch: “bĩ cực thái lai" rồi ngồi yên thúc thủ chờ thời:

Hẳn bền lòng chớ chút oan Vưu

Thời chí hỷ ngư long biến hóa.

Thôi đã biết củng thông là mệnh cả,

Cũng đừng đem hình dịch lại cầu chỉ,

Hơn nhau cũng một chữ “Thì ”

(Cuộc phong trần, Cao Bá Quát)

Để rồi cuối cùng cố quên nỗi khổ não chứa chất trong tâm hồn bằng cách “uống rượu tiêu sầu”, hoặc nữa là lẩn tránh không dám nhìn vào thực tại và cuối cùng đắm mình trong thiên nhiên hoặc trong thế giới tưởng tượng để tìm lấy ở đó một nguồn an ủi bất tận như trường hợp của Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh v.v...

Hoặc là giãi bày những lời thở than oán trách, châm biếm “thiên hạ tự” để cho vơi đi một chút u uất, và cuối cùng là tư tưởng nhớ nhung hoài cổ như trường hợp Trần Tế Xương, Bà Huyện Thanh Quan v.v ...

Đêm đêm tiếng ếch bên tai

Giật mình còn tường tiếng ai gọi đò.

(T.T.Xương)

Phan Châu Trinh thì khác hẳn. Là một nhà cách mạng lấy việc giải phóng dân tộc làm lẽ sống, nên trước những nỗi gian nan đau khổ, giữa cuộc đời tù đày cơ cực, ngày ngày phải xách búa đi đập đá - xa quê hương, xa đồng chí không một lời an ủi dịu hiền - mà ông vẫn khẳng khái, coi đó chỉ là một sự thử thách ý chí mình. Ông diễn tả lòng cương quyết phá núi:

Xách búa đánh tan năm bảy đống

Ra tay đập bể mấy trăm hòn ...

Nhưng thực ra công việc đập đá ở đây chỉ có một giá trị tượng trưng - nó tượng trưng cho những ưở ngại ghê gớm trên bước đường lập chí của ông đó thôi. Bởi vậy, ông cương quyết phá núi thế nào thì đồng thời ông cũng cương quyết phá tan mọi trở ngại san bằng những chông gai cũng như thế. Ý chí quyết chiến và quyết thắng của ông đã làm cho ta chợt nhớ tới ý chí quyết chiến và quyết thắng của Nguyễn Công Trứ qua những câu:

Cũng có lúc mưa dồn, sóng vỗ

Quyết ra tay buồm lài với cuồng phong,

Chí những toan xẻ núi, lấp sông,

Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ.

Do đó, ta có thể nói được rằng: đối với ông, những sự đau khổ thất bại không phải là một động lực làm cùn nhụt ý chí chiến đấu, mà là hun đúc cho tinh thần chiến đâu thêm già dặn, đanh thép để thẳng tiến tới mục đích. Thực đúng với câu nói của một nhà cách mạng châu Âu trước kia: “Cái bước lùi cửa những chiến sĩ không phải là bước lùi để thúc thủ mà là sửa soạn để nhảy được xa hơn”.

Vì thế, ta không ngạc nhiên khi đọc hai câu kết luận của ông:

“Những kẻ vá trời khi lỡ bước

Gian nan nào sá sự con con”.

Xem như vậy thì ta không khỏi thấy: nội dung bài thơ “đập đá” trên đây đã trưng lên giá trị lành mạnh và một hướng “đi lên” rõ rệt. Nó xứng đáng là một bài thơ cách mạng của một con người cách mạng.

Bài thơ trên đây không chỉ có giá trị tiêu biểu trong phạm vi nội dung, mà còn có giá trị tiêu biểu trong phạm vi hình thức nữa. Mà thực vậy, nội dung của nó mạnh mẽ bao nhiêu thì lời vãn của nó lại cũng rắn rỏi, quyết liệt bấy nhiêu.

Ngay trong câu phá đề và thừa đề, iối đùng chữ của tác giả đã đủ trác tuyệt rồi:

“Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn

Lừng lẫy làm cho lở núi non”

Mỗi chữ đặt vào đây đều bao hàm một hình ảnh sinh động và một sức sống sôi nổi. Ví dụ như tiếng “đứng”, tiếng “lừng lẫy” đủ gợi cho ta trông thấy hình ánh một trang nam nhi, đầu đội trời, chân đạp đất, đứng hiên ngang trước cẳnh núi non biển rộng, coi thường sóng gào, gió thét quanh mình, nhất quyết lấp sông, phá núi để đạt tới cho bằng được mục đích cao cả của mình. Tiếng “đứng” ở đây có một giá trị gợi cảm đặc biệt, đặc biệt không kém gì tiếng “đứng” của Nguyễn Công Trứ trong câu:

“Làm trai đứng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”.

- Nghệ thuật dùng chữ cửa tác giả không những chỉ có giá trị gợi hình và gợi cảm như vừa nói trên mà cồn nằm ở trong cách dùng chữ đối chọi đến “nảy lửa” trong hai câu thực và hai câu luận nữa. Mà thực thế, còn có những tiếng nào đối chát với nhau bằng những tiếng.

Xách búa     đối với         ra tay

Đảnh tan      đối với         đập bể

Năm bảy đống       đối với         mấy trăm tròn

Hoặc:

Tháng ngày     đối với      mưa nắng

Bao quản        đối với      chi sờn

Thân sành sỏỉ        đối với         dạ sắt son

III. Bài thơ ghi dấu một chặng đường hoạt động chứ chưa khép lại đường đời của con người đầy khí phách hiên ngang. Sau hai năm bị đày, Phan Chu Trinh được “ân xá ”.

Vì nhận thấy tranh đấu tại nước sẽ có rất ít kết quả, nên năm 1911, ông đã theo toàn quyền Klobukowsky sang Pháp. Đi theo ông, có người con trai duy nhất là Phan Chu Dật.

Năm 1925, ông trở về Nam Kì vào khoảng tháng 6 và có tổ chức mấy cuộc diễn thuyết quan trọng nói về Quân trị Chủ nghĩa và Dân trị Chủ Nghĩa, Đạo đức và luân lý Đông, Tây. Trong thời gian này, tuy bị đau, nhưng ông vẫn tích cực vận động và ký tên vào bản xin ân xá cho ông Phan Bội Châu.

Ngày 24-12-1925, khi được tin ông Phan Bội Châu đã được toàn quyền Va-ren-ne ký giấy ân xá, ông định ra Huế gặp người bạn già để hàn thuyên, tâm sự thì bị đau và mất ngày 24-3-1926. Toàn quốc thụ tang ông.

Nguồn: