Phân tích tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân

Thứ hai , 27/03/2017, 13:52 GMT+7
Phân tích tác phẩm Vợ Nhặt. Tôi đã từng nghe một bà cụ kể chuyện về nạn đói thảm khốc vào những năm 1945 rằng trong lúc bà cụ chạy vạy khắp xóm kiếm vài ống gạo thì ở nhà cô gái út lả đi vì đói. Cô chị sục sạo mọi ngóc ngách, xó xỉnh chỉ tìm thấy một miếng khoai khô đã mốc, chị chưa kịp nướng lên thì cô em đã chết lạnh trong nỗi sợ hãi và nước mắt.
Những chuyện đại loại như thế về những bóng ma trong “thời đại đói” đã day dứt tôi. Nhưng chỉ khi đọc đến truyện Vợ nhặt của Kim Lân thì tôi mới thấm đậm những cái đói khát, những cái sống dật dờ, lay lắt nằm phơi lộ ra che khuất đằng sau “một câu chuyện tình sơ sài” pha chút cay dắng đến xót xa trong thời loạn gạo nhằm duy trì sự sinh tồn của nhân loại.
 
Chắc có lẽ nhà văn đã đi từ cái đói khát ra nên tai họa thảm khốc năm Ất Dậu đã ám ảnh ông vẽ nên một bức tranh gầy guộc mà sắc sảo đến góc cạnh trong bôi cảnh cả dân tộc Việt Nam nằm bên bờ vực của cái đói và sự chết. Không cần phải dùng tới những lời hoa mỹ, gọt dũa kiểu “nghệ sĩ” mà tác phẩm Vợ nhặt vẫn có một sức hấp dẫn kì lạ chỉ bằng những câu văn mộc mạc, chân tình, ngắn gọn, thậm chí cụt lủn (đôi với những câu thoại) hoặc giả người viết đã từng nghĩ những lời thơ mộng, gọt dũa hào hoa kia không sánh dôi được với những bản châ't chất phác, thô kệch của người nông dân. Và đó là thành công nghệ thuật bậc nhất mà Kim Lân gặt hái bội thu ở tác phẩm này.
 
Mở đầu tác phẩm, chúng ta đã lờ mờ thấy được số phận đìu hiu và một xã hội éo le qua hình ảnh thật đơn giản mà sâu sắc “con đường khẳng khiu”. Sâu hơn một chút thì cái đói rách chết chóc không còn lẫn khuất nữa mà đã bày ra “ngỗn ngang”, “xanh xám như những bóng ma”, “ba bốn cái thây nằm còng queo”, “vẫn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gấy của xác người”. Trên cái nền xám xịt ấy của sự sông dã tồn tại chông chênh những số phận con người. Đó là Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tữ và những con người không tên sống dật dờ ở xóm ngụ cư. Đến cả tên gọi của nhân vật cũng rất đơn giản, không gợi nhiều ý nghĩa mà có chút gì đó như là phong kiến, như là sợ sệt một cái gì đó ẻo lả, yểu điệu của sự sông lại pha một chút khát khao sự bình yên, â'm áp, gần gũi ở bên trong: Tràng, Đục.
 
Kim Lân không mất nhiều thời gian và ngôn từ dành cho việc miêu tả chân dung nhân vật của mình. Tuy nhiên chỉ với một vôn từ có thể nói là ít ỏi với nghệ thuật trau chuốt gọt đẽo dường như thiếu hoàn hảo ấy cũng đủ để toát lên toàn bộ hình ảnh hàm ý một cách tròn trịa. “Hắn bước ngật ngưỡng”, “hai çon mắt ti hí gà gà, quai hàm bạnh ra...”, “thân hình to lớn, vập vạp”, “cái đầu trọc nhẵn”. Tất cả những cái được gọi là thô kệch xù xì, xốp xáp, Kim Lân đã gán đứt cho nhân vật Tràng cộng thêm với cử chỉ “ngửa mặt lên cười hềnh hệch” thì đích thị nhà văn đã có ý miêu tả cái anh chàng ngô" này hội tụ đầy đủ sự hoang dã đến khờ khạo mà vẫn bộc lộ được bản chất thôn quê chất phác. Còn với người đàn bà trong cảnh nghèo đói thảm đạm trong con mắt của Kim Lân lại hiện lên một cách túng thiếu “cái ngực gầy lép, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt... gầy xọp, rách mướp”, “áo quần tả tơi nhừ tổ đỉa”. Đó là người đàn bà làm đảo lộn cuộc đời Tràng. Rồi hình ảnh bà cụ Tứ “lọng khạng”, “lập cập” đến tội nghiệp.
 
Mối tình “hai bận” đã kết thúc cuộc sống “một mình mấy u” của Tràng để bước sang một khoảng sáng mới với người vợ nhặt giữa cái cảnh “tối sầm lại vì đói khát” và đây cũng chính là nốt nhấn chính trong tác phẩm này. Tràng có vợ làm xôn xao, náo động bức tranh chiều quê ảm đạm của xóm ngụ cư. Đằng sau những lời bàn tán xì xầm của những “khuôn mặt hốc hác u tối” là xái “rạng rỡ” “tưới mát” lẫn lộn cùng sự “nín lặng” ngỡ ngàng, bế tắc của những cuộc đời bị đẩy sát bên bờ vực của sự sống và cái chết. Đến ngay cả Tràng cũng thây sờ sợ “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Nhưng rồi anh ta lại chậc lưỡi “Chậc, kệ”. Kết quả của những câu “tẩm phơ tầm phào” đã rõ. Tràng cũng xem như “chuyện đã rồi” nên để yên cho cái hạnh phúc bâ't ngờ ấy chảy xuống cuộc đời đói khát. Cũng như Tràng, người đàn bà “lủi thủi đi về bến” theo gót làm vợ Tràng cũng đột ngột có chồng sau cái hành động “cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền” đánh mất cả sĩ diện, kiêu kì và đoan trang giữa thời buổi đói kém của người con gái. Tôi bỗng chợt nhớ ra giá trị của người con gái ở tuổi cập kê, ai đó đã nói rằng.
 
Một cô gái chưa vội gả chồng
Thì đồ thách cưới được đòi rất cao.
 
Bỏ qua hết tất thảy mọi nghi lễ ràng buộc, trong hoàn cảnh cái chết ở bên lề sự sông, con người “quần áo tả tơi như tổ đỉa” bỏ qua tất cả cái gọi là “công dung ngôn hạnh” đi thẳng vào cuộc đời của kẻ mang bộ dạng giông như con gâu, như gốc cây xù xì trần trụi ây chẳng mây băn khoăn, thả cuộc đời, số phận mình ở đó, tìm kiếm một chỗ dựa dẫm nương thân. Chuyện hôn nhân của Tràng và người vợ nhặt cũng đến là lạ, chỉ nhoằng một cái thế là xong. Tràng có vợ. Đột ngột mà tốt số đào hoa tới bà mẹ cũng phải ngạc nhiên: “Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u?” Hai nửa cuộc đời vá víu ấy dạt vào nhau, dìu dắt nhau “giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát'’. Người ta phải mất nhiều công sức, phải lao tâm khổ tứ theo kiểu của dần gian thì “tam tứ núi cũng trèo, ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua”, còn anh Tràng chỉ bông đùa có mấy câu đại loại như thế này:
 
- Rích bố cu, hở!
- Ăn thật nhá! U thì ăn sợ gì.
... - Hà, ngon! về nhà chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố.
- Làm đếch gì có vợ. Này nói đũa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về.
 
Như vậy mà đã nên vợ nên chồng, nên một mái ấm gia đình, vượt lên mọi đói khổ về vật chất. Việc người đàn bà “chao chát chỏng lỏn” dâng hiến cuộc đời cho Tràng khiến anh chàng trở thành một con người khác hẳn với thường ngày, khuôn mặt nặng trĩu âu lo “cái áo nâu tàng vắt một bẽn vai trễ nải, đầu trọc ngắn chúi về phía trước”, hôm nay “mắt hắn có một vẻ gì phởn phơ khác thường. Hắn tủm tỉm cười một mình và hai mắt thì sáng lèn lấp lánh”. Tâm trạng con người lấy được vợ đó như đi trên mây trên mưa đến tận sáng hôm sau đêm tân hôn Tràng tỉnh dậy vẫn thấy ngờ ngợ, lòng thì khoan khoái “lửng lơ như người vừa trong mơ đi ra”. Và âu đó cũng là tâm huyết sâu xa nhất mà Kim Lân dồn nén cho việc thể hiện niềm khát khao hạnh phúc tình yêu của con người trong sự sống ê chề tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa. Kim Lân đã rủ tấm lòng nhân hậu xuống mái nhà gầy teo đứng “rúm ró” xiêu vẹo sau “cành rong dấp cổng” để buổi sáng hôm ấy tất cả mọi cái trong con mắt một kẻ thỏa nguyện với hạnh phúc đều thay đổi dưới ánh nắng buổi sáng chói lóa vào mắt. Ngay cả đến bản thân Tràng cũng gợn chút đôi thay, một kẻ thô lỗ, cục mịch, một chút kệch cỡm, một chút ngô" ngố bỗng chốc biến thành người “lúng ta lúng túng, tay nọ xoa vào vai kia”.
 
 
Nhưng dẫu sao sự kiện lớn lao hi hữu kia cũng khiến Tràng trở thành một con người lớn lao hơn, có bển phận trách nhiệm trước một gia đình mới “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đinh. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo láng cho vợ con sau này”. Giữa cái tâm trạng thăng hoa của niềm tin yêu thiết tha với cuộc sông, Tràng đã bỏ mặc cuộc đời u ám, tối tăm trước đây dể được sống trong tình cảm giữa con người với con người, Tràng cảm thấy rằng mình cũng nên người như mình không thể tưởng. Và đó là tình yêu vợ chồng. Tiếng “tình yèu” gọi lên ở đây có vẻ như xa hoa, hào phóng, nhưng đích thực đó là tình yêu, theo tôi nghĩ, có thể rằng Tràng chưa định nghĩa về tình yêu, còn với Kim Lần chắc chắn ông đã gọi đó là tình yêu vợ chồng mà nó sẽ lớn dần lèn sau khi nên vợ nên chồng.
 
Người vợ mà Tràng nhặt được ngoài chợ ve, chị ta cũng không khác với tâm trạng của Tràng, chị ta cũng có chồng quá đột ngột. Cuộc sông nghiệt ngã đã đẩy đưa người đàn bà chấp nhận gửi gắm cuộc đời của mình cho một kẻ xa lậ xâu xí và đói nghèo. Xã hội đã cướp đi của người đàn bà tuổi thanh xuân, sắc đẹp và cả giá trị đích thực của người con gái khiến “nàng” phải “lủi thủi” theo Tràng về bên xóm ngụ cư tồi tàn với tài sản vẻn vẹn có cái “thúng con đựng vài thứ lặt vặt”. Người đàn bà được coi là đanh đá khi về nhà chồng cũng ngượng ngịu “chân nọ bước díu cả vào chân kia” - không biết Kam Lân muốn ngụ ý ỏ đây sự ngượng ngịu xấu hổ vì hạnh phúc hay cái e thẹn xâu hổ vì xấu hổ? Nhưng đên lúc dứng trước cửa nhà, người vợ nhặt lại có tâm trạng buồn trước cái cảnh “cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại” cho thây một sự thảm đạm đeo đẳng nơi đây cũng chẳng khá hơn cái nghiệt ngã mà thị đã từng. Thị “nén một tiếng thở dài” chấp nhận một sự sắp đặt của thượng đế mà thị là đứa con khốn khổ phải vâng lời. Mặc dù không hẳn là tuyệt vọng trước cái nghèo đói nhưng cũng không phải thỏa nguyện trước gia cảnh nhà chồng, người đàn bà đó vẫn thể hiện tính cách của một nàng dâu mới, thị cũng “ngượng ngịu” “ngồi xuống mép giường”. Ngay đến cái cử chỉ “cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt” cũng cho thấy thị đã trở thành một nàng dâu bé nhỏ trước bà mẹ chồng, chờ câu phán quyết. Không biết Kim Lân có ý chê trách không nhưng đó quả thực là cái thất thế của người đàn bà khi phải lẽo đẽo theo về làm vợ trước sự túng quẫn của miếng cơm manh áo. Dường như để cân bằng lại cái độc dịa và bất công của mình, ông lại khắc họa sự tinh tế, nét văn hóa của người phụ nữ Việt Nam: “rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn”. Minh chứng cho điều đój người con dâu đón lấy bát cháo cám “hai con mắt thị tối lại” nhưng sau đó “thị điềm nhiên và vào miệng”. Thị cũng bắt đầu cảm thấy rằng thị cũng đã có được tình thương, tình thân và bổn phận làm một người phụ nữ, một người vợ, một người con. Đức tính cần cù chịu khó của người phụ nữ Việt Nam trỗi dậy thể hiện ngay vào cái buổi sáng hôm sau ấy: “Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ắp. Đống rác nuôi tung hoành ngay lối đi đã hót sạch”. Rõ ràng bàn tay của người phụ nữ mới đã mang lại ánh nắng ấm áp cho ngôi nhà vốn dĩ “tối om úp súp” này.
 
Mối tình trước hôn nhân của đôi vợ chồng trẻ này qua nghệ thuật đối đáp của Kim Lân là những lời đối thoại lửng lơ, trông không, cụt lủn.
 
- Sắp đến chưa?
- Sắp.
- Nhà có ai không?
- Có một mình tôi mấy u?
... - vẫn chưa đến à?
- Còn chán.
- Khiếp.
Hoặc giả những câu khoe khoang, tán tỉnh của Tràng.
- Dầu tối thắp đây.
- Sang nhỉ.
... Rích bố cu, hở!
- Ăn thật nhá!
- Hà ngon! về nhà chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố.
- Làm đếch gì có vợ...
 
Khi ta bắt gặp hình ảnh bà cụ Tứ trong tác phẩm, ta hiểu ngay về hình ảnh người mẹ Việt Nam mà Kim Lân đưa vào trang sách với tất cả tịnh thương và nỗi đau xót xa cho một đời người. Một đời người mà chẳng nên người. Cũng như bao nhà văn khác, Kim Lân đi tìm cảm hứng bất hủ cho sáng tạo văn học bằng hình tượng độc đáo về đề tài người phụ nữ. Và người phụ nữ nghèo khổ già nua của Kim Lân không giông như những người đàn bà khác; thiếu vắng sự trẻ trung tháo vát của chị Dậu (Tắt đèn - Ngô Tất Tố) nhưng không phải là không nhân hậu tảo tần. Lòng người mẹ bỗng thắt lại đau đớn khi bà hiểu ra cơ sự. Bà chợt nhớ tới quá vãng trĩu nặng đắng cay: “Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc dời cực khổ dài dàng dặc của mình.
 
Vợ chồng chúng nó lấy nhau, đời chúng nó liệu có hơn bô mẹ trước kia không?” Nỗi lo lắng của người mẹ không phải là vô cớ mà nỗi lo đi từ sự thực đớn đau, bà đã trải đời, bà đã hiểu. Trong nín lặng, từ ngỡ ngàng, ngạc nhiên đến tủi hờn, người mẹ đã khóc những giọt nước mắt xót thương cho số kiếp đứa con mình “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con để cái mở mặt sau này. Còn mình thì...”. Tấm lòng bao dung độ lượng của người mẹ mở ra ôm lây hạnh phúc của cuộc đời con. Bà chẳng biêt nói gì hơn trước sự kiện “đã rồi” mà đứa con trai đặt bà vào tình thế “bất khả kháng”. Người mẹ không phải là không hài lòng về người con trai hay người con dâu mới mà lo là lo cho cái tương lai giữa tao đoạn thóc khan gạo hiêm. Dẫu gì bà cũng đã giang rộng vòng tay đón lấy nàng dâu.
ừ thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng.
 
Cũng chính người mẹ độ lượng ấy lại là người biết lo xa cho tương lai nhiều nhất, là người nói đến hi vọng, đến ngày mai hơn tất cả: “Khi nào có tiền, ta mua lấy đôi gà”, “Rồi ra may mà ông giời cho khá... Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?” Người mẹ già nua “lọng khọng” đã thắp lên ngọn lửa tình thương giữa người với người làm cho tình người ấm áp hơn, làm cho người gần người hơn qua cái cách bà nói với nàng dâu.
 
- Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống cho đỡ mỏi chân.
 
Bà lão không dám phiền lòng con mình đang trong tâm trạng hạnh phúc. Bà chỉ nói toàn những chuyện vui, chuyện sướng sau này, bà muôn làm tất cả những gì có thể để xua tan bóng đen cuộc đời đang ám ảnh trong tâm hồn những đứa con. Tất cả đó như một sự vỗ về cho hạnh phúc của những đứa con tội nghiệp, vừa nhen lên ngọn lửa tin yêu hi vọng về cuộc đời cho con và cho cả chính mình. Dù chỉ rất mỏng manh tồn tại, niềm tin yêu lạc quan của những con người đói nghèo thiếu thốn cũng đã níu giữ do cuộc đời họ tồn tại. Ta bỗng thấy xót xa cho sô' kiếp những con người sống không nên người giữa cái xã hội không nên xã hội.
 
Yếu tố thời gian trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân là một yếu tố vận động theo quy luật tự nhiên từ hoàng hôn ngày hôm trước tới bình minh ngày hôm sau. Sự vận động ây vừa làm nền cho câu chuyện vừa khiến người đọc liên tưởng tới sự vận động theo chiều hướng tôt lành của cuộc sông. Giữa cái cảnh tối om úp súp của xóm ngụ cư phấp phới hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng. Đặc biệt ở đây, Kim Lân đã đề cập tới dáng dấp của người phụ nữ đã tham gia trong việc hiện lên lá cờ đỏ sao vàng, đó là một sự trân trọng và là sự thay đổi lớn lao về cái nhìn đôi với người phụ nữ mà trước đây, trong xã hội trước đó những nhà văn trước đó chỉ đề cập, hoặc ít đề cập tới vai trò của người phụ nữ trong xã hội, họ chỉ chiếm vị trí trong khu vực chật hẹp nhất của căn nhà là cái bếp với những bận rộn vặt vãnh cùng nồi niêu bếp núc. Tới đây, Kim Lân đã đưa người phụ nữ can dự vào vấn đề chính trị, đánh dấu một sự thay đổi về quan niệm đôl với người phụ nữ.
 
Cuối cùng là tư tưởng nhân đạo sâu sắc của nhà văn, không chỉ yêu thương, trân trọng con người mà hướng tới việc giải phóng con người ra khỏi khổ đau đưa họ đến bến bờ hạnh phúc vượt lên trên tất cả mọi nhọc nhằn nghiệt ngã của trần tục.
Nguồn: