Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông Núi Nước Nam của Lý Thường Kiệt

Thứ ba , 10/10/2017, 14:50 GMT+7
Hocvan gửi đến các bạn Bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông Núi Nước Nam (Nam Quốc Sơn Hà) của Lý Thường Kiệt hay nhất. Chúc các bạn làm bài điểm cao nhé!
Nếu nhắc đến trận đánh oai hùng trên sông Như Nguyệt (sông Cầu ở Bắc Ninh) thì ai cũng nhớ đến vị tướng tài ba Lý Thường Kiệt. Nhắc đến ông thì không ai có thể không nhắc đến chiến công hiển hách của ông năm 1077 thắng quân Tống. Trận đánh đã đưa ông vào sử sách lưu truyền ngàn đời với bài thơ tuyệt tác làm nức lòng người đọc, người nghe, đó là bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Bài thơ đã khích lệ tinh thần chiến đấu của binh lính, thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, ý chí kiên định đánh đuổi giặc ngoại xâm.
 
Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt đã truyền tải tấm lòng của tác giả một cách chân thật nhất:
 
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.”
 
Dịch thơ:
 
“Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở.”
 
Đêm thiêng liêng trên dòng sông Như Nguyệt chợt vang lên lời thơ Thần làm cho tinh thần ba quân, tướng sĩ hứng khởi vì tự hào là con Rồng cháu Tiên, luôn có Thần giúp đỡ. Trong khi đó lời truyền cũng làm cho bọn giặc kinh sợ vỡ mật, mất hết tinh thần chiến đấu. Ớ trong bài thơ này có một điều đặc biệt là trong bản phiên âm từ tiếng Hán, Lý Thường Kiệt đã dùng chữ “dế” để chỉ vua nước ta, coi vua Nam ngang hàng với vua phương Bắc. Đây là sự tự tôn dân tộc mạnh mẽ, mãnh liệt: khẳng định nước Nam là của vua Nam. Thời xưa, với quan niệm phong kiến quân chủ, nước là của vua nên trung thành với vua là trung thành với đất nước “Trung quân, ái quốc”. Ví như mười tám dời vua Hùng thay nhau dựng nước và giữ nước bình yên cho bờ cõi. Thời kì đó đã xuất hiện Thánh Gióng đánh đuổi giặc Ân. Rồi đến Thục Phán đánh đuổi giặc Tần xưng An Dương Vương. Đến ngườị phụ nữ chân yếu tay mềm cũng vùng lên đánh giặc như Trưng Nữ Vương đánh đuổi quân Hán hay Bà Triệu lãnh đạo nghĩa quân đánh phá quân Ngô. Rồi từ đó nước nam ta dần dần khởi sắc với các đời vua uy nghiêm, lẫm liệt: Mai Hắc Đế (Mai Thúc Loan), Lý Nam Đế (Lý Bí), Bố Cái Đại Vương (Phùng Hưng), họ Khúc, triều Ngô, nhà Đinh, nhà Tiền Lê, ... Luôn sát cánh bên các vị vua còn có các danh tướng lẫy lừng như Lý thường Kiệt, ... Nhờ có những vị vua anh minh, những vị tướng tài ba đã dẫn dắt đất nước được thái bình thịnh trị. Để từ đó nổi lên những chiến công vang dội đem lại nền độc lập cho đất nước.
 
“Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam củng khác.”
 
Lời tuyên bố của Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” cũng cùng quan điểm non nước Việt Nam ta đã được hoạch định từ ngàn xưa giống như câu thơ “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”, qua bao nhiêu thử thách đã hình thành một Việt Nam gấm hoa, thấm đậrn tình đoàn kết dân tộc.
 
Càng ý thức chủ quyền đất nước, càng yêu nước nồng nàn bao nhiêu, nhân dân ta càng căm thù giặc bấy nhiêu. Điều này được thể hiện rõ nét qua hai câu thơ cuối như sau:
 
“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ hại hư.”
 
Dịch thơ:
 
“Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.”
 
Kết cục cho bi kịch của việc cướp nước là bọn xâm lược sẽ bị trả đòn trên sông Như Nguyệt. Tiếng ngâm thơ vang vọng hai bên bờ sông áp đảo tinh thần ngạo mạn của bọn xâm lăng. Đồng thời giúp quân ta tăng thêm ngọn lửa hận thù sôi sục lũ giặc Tống cướp nước, tăng thêm quyết tâm vùng lên giành lại non sông, dánh cho lũ giặc tan tành từ đó giữ vững độc lập, khẳng định chủ quyền đất nước. Với những khổ đau mà giặc phương Bắc gây ra thì một trận đánh hào hùng sẽ mau chóng lấy lại niềm hứng khởi cho toàn dân cùng cất tiếng hoà chung ca khúc khải hoàn, chiến thắng.
 
Bài thơ “Nam quốc sơn hà” đã giúp chúng ta ghi nhớ lịch sử hào hùng của dân tộc, để ta tự hào về cội nguồn của mình, luôn nhớ chủ quyền đất nước là của chúng ta, những người con mang nòi giống “con Rồng cháu Tiên”, trong người chảy dòng máu “Lạc Hồng”. Bài thơ cũng bồi dưỡng tinh thần quyết tâm chống giặc, bảo vệ đất nước, khơi gợi niềm tự hào dân tộc, yêu đất nước cho người đọc, người nghe.
 
Đề cập đến tuyên ngôn độc lập của nước ta thì bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt được xem là bản đầu tiên cùng với “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi là bản thứ hai và tiếp đến là “Bản tuyên ngôn độc lập” được Bác Hồ đọc vào ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Tất cả đã làm cho nhân dân ta vỡ oà niềm hân hoan, hạnh phúc vì mở ra một trang sử mới. Đây là trang sử của sức mạnh niềm tin vào lẽ phải, chính nghĩa, sức mạnh của tình đoàn kết dân tộc thể hiện qua quyết tâm bảo vệ lãnh thổ, giữ vững chủ quyền đất nước trước các âm mưu xâm lược của bọn cướp nước.
 
BÀI LÀM 2
 
Mở bài - Đặt vấn đề: Đất nước Việt là sản phẩm của ‘ Con rồng, Cháu tiên’ ; là sự khai sinh của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Tiếng nói của những người con, người cháu của đất nước đó được vang ca mấy nghìn năm. Họ đã sống, đã lao động để bảo vệ cái nôi nơi họ sinh ra
 
- Nhưng rồì bọn quân xâm lược phong kiến phương bắc với tư tưởng bá quyền nước lớn hiển nhiên qua xâm lăng muốn biến dân tộc ta thành dân nô lệ của chúng. Và rồi chúng ta không khoan nhường một giây phút nào nữa , lên tiếng bảo vệ chủ quyền thiêng liêng đất nước ! Và bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên ra đời:
 
 “Sông núi nước Nam vua Nam ở
 Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng bay nhất định phải tan vỡ.
 
Thân bài - Triển khai: Bài thơ là lời tuyên bố về chủ quyền của đất nước và khẳng định không một thế lực nào được phép xâm phạm vào quyền độc lập ấy.( được thể hiện rõ qua 2 câu thơ đầu )
 
+ Sông núi nước Nam là của người Nam. Đó là chân lí độc lập bất hủ!
 
“nam quốc sơn hà nam đế cư”
 
+ Ý thức tự tôn dân tộc được bộc lộ mạnh mẽ qua hai từ Nam quốc và Nam đế đầy ẩn ý. Nước nam là của vua và dân nam, không một ai có thể chối cãi nó được ví như hình ảnh mẹ sinh ra con thì con chính là con của mẹ , không thể là con của một ai khác và không ai có quyền cướp con khỏi bàn tay mẹ .
 
+ Hiểu và nhận thức được chủ quyền trị vì của dân tộc đất nước của những người dân nước Việt. Thái độ ấy là tư thế của một dân tộc dám kiêu hãnh đứng thẳng làm người, giơ một quả đấm thép giáng thẳng vào bộ mặt kiêu căng ngạo mạn của bọn phong kiến Trung Quốc coi nước khác chỉ là chư hầu của chúng, coi dân tộc khác chỉ là nô lệ của chúng
 
+Lãnh thổ ấy được minh chứng là của con dân việt không chỉ qua việc họ đã xây dựng nên đất nước ấy mà còn có tiền đề đó là “sách trời” đã chia nó từ bấy lâu nay
 
- Khẳng định ý chí bảo vệ tổ quốc của quân và dân ta (2 câu tiếp)
 
+ Ý chí đó được làm rõ qua câu hỏi tu từ “- cớ sao lũ giặc qua xâm phạm”. Đó là một biểu hiện giận dỗi đầy phẫn uất của tác giả, đó cũng là thái độ của con dân việt với lũ cướp nước 
 
+Tinh thần bảo vệ tổ quốc được nuôi dưỡng từ sâu trong trái tim của mỗi một người con dân việt khi ý thức rõ  lũ phong kiến ngạo mạn, cướp đi cuộc sống bình dị của một đất nước yêu tự do, yêu hòa bình ấy
 
+ Câu thơ còn thể hiện thái độ không khoan nhượng, không nhún nhường trước những hành động bạo tàn đó,  thể hiện được chí khí, bạo tàn của một người dân yêu nước 
 
+Lý Thường Kiệt còn lên tiếng cảnh báo trước những hành vi vô phép tắc của tụi xâm lăng  “chúng bây sẽ bị đánh cho tơi bời” sẽ là một kết cục ê chề, thê thảm của chúng.
 
+ Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn cho câu thơ của Lí Thường Kiệt. Sông cầu và bến đò Như Nguyệt là mồ chôn hàng vạn lũ giặc phương Bắc. Trước sự giáng trả sấm sét của quân ta, Quách Quỳ phải tháo chạy, thất bại nhục nhục nhã. Chiến thắng Sông cầu - Như Nguyệt là một trong những trang sử vàng chói lọi của Đại Việt
 
- Khẳng định tinh thần yêu nước:
 
+ Chiến thắng với quân địch là minh chứng cho một sự thật rõ ràng là quân và dân ta có tấm lòng hướng về tổ quốc, đặt vị trí quốc gia lên hàng đầu
 
+ Chiến thắng vì tướng sĩ của ta mưu lược, dũng cảm đánh giặc để giữ gìn quê hương đất nước.
 
+ Đó là tinh thần đoàn kết dân tộc để trừng trị bọn tội đồ cướp nước, bán nước
 
Kết bài - Đánh giá: Tóm lại, bài thơ ‘Nam Quốc sơn hà’ được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước đại việt:
 
+ Nói về ranh giới chủ quyền quốc gia với những lời lẽ xác đáng, khoa học
 
+ Được mọi con dân việt nam lưu truyền trong xã hội, trong lịch sử, từ thế hệ này sang thế hệ khác 
 
+ Giá trị bài thơ gắn với thiên thời- địa lợi- nhân hòa phù hợp với lịch sử nước ta lúc bấy giờ 
 
- Bài thơ là khúc anh hùng ca của dân tộc, là tiếng nói đầy quyền uy đối với kẻ thù xâm lược 
 
- Bài thơ xứng đáng là áng thơ văn bất hủ
Nguồn: