Soạn bài Các thao tác nghị luận

Thứ bảy , 15/04/2017, 12:32 GMT+7
I/ Khái niệm. 1. Thao tác được dùng để chỉ việc thực hiện những động tác theo trĩnh tự và yêu cầu kĩ thuật nhất định.
2. Điểm tương đồng:
 
Thao tác nghị luận cũng là một loại thao tác, do đó cũng bao gồm những qui định chặt chẽ về động tác, trình tự và yêu cầu kỹ thuật.
 
Điểm khác biệt: Trong thao tác nghị luận, các động tác đều là hoạt động của tư duy mà sản phẩm của nó là văn bản ngôn ngữ nhằm mục đích cuôl cùng là thuyết phục người nghe, nghe theo ý kiến của mình.
 
II/ Một số thao tác nghị luận cụ thể
 
1. ôn lại các thao tác phân tích, tổng hợp, diễn dịch, qui nạp
 
a) - Tổng hợp
 
- Phân tích
 
- Qui nạp
 
- Diễn dịch
 
b) Trong bài “Tựa Trích diễm thi tập”, tác giả sử dụng thao tác phân tích. Vì tác giả đã chia nhận định chung thành các mặt riêng biệt để làm rõ hơn các nguyên nhân khiến
cho thơ văn xưa không truyền lại đầy đủ được đến thời đại bây giờ.
 
Việc dùng phép phân tích như thế làm cho nội dung lời tựa sâu sắc, có sức thuyết phục cao.
 
Lập luận trong Bài kí để danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba, từ câu thứ nhất sang câu thứ hai tác giả sử dụng thao tác phân tích để thấy được vai trò của hiền tài. Từ hai câu đầu sang câu thứ ba, tác giả đã sử dụng thao tác diễn dịch. Từ việc đề cao giá trị của hiền tài, tác giả khẳng định sự cần thiết phải “vun trồng nguyên khí”.
 
c) Trong bài “Tựa Trích diễm thi tập”, sau khi nêu bốn lí do hạn chế, Hoàng Đức Lương đã rút ra kết luận: Vậy thì các bản thảo thơ văn củ mỏng manh kia còn giữ mãi thế nào được mà không rách nát tan tành'?
 
- Kết luận có được là nhờ tác giả đã dùng thao tác tổng hợp những ý của bộ phận vào một kết luận chung, nhờ đó kết luận có sức khái quát cao những ý đã trình bày ở trên.
 
- Trong đoạn trích Hịch tướng sĩ, tác giả đã sử dụng thao tác qui nạp. Bởi vì tác giả đi từ những dẫn chứng cụ thể để đến kết luận: Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có?
 
d) - “Thao tác diễn dịch có khả năng giúp ta rút ra chân lí mới từ các chân lí đã biết”. Đây là nhận định đúng. Vì sự diễn dịch không đơn thuần chỉ là sự diễn giải vấn đề mà nó còn khái quát vấn đề, do đó nó sẽ giúp người đọc nắm bắt dược những chân lí mới.
 
- “Thao tác qui nạp luôn luôn đưa lại cho ta những kết luận chắc chắn và xác thực”. Đây là nhận định chưa hoàn toàn đúng, bởi vì chỉ khi nào thao tác qui nạp đầy đủ các lí lẽ, dẫn chứng thì kết luận mới có sức thuyết phục.
 
- “Tổng hợp không chỉ là thao tác đối lập với thao tác phân tích mà còn là sự tiếp tục và hoàn thành của quá trình phân tích”. Đây là nhận định đúng, bởi vì phân tích và tổng hợp phải luôn luôn đi dôi với nhau. Nếu phân tích mà không tổng hợp thì sự phân tích ấy như con thuyền không bến đỗ. Chỉ khi nào tổng hợp thì sự phân tích mới hoàn thành chức năng của mình.
 
2. Thao tác so sánh
 
a) Kết luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Những cử chỉ cao quí đó, tuy kháo nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi nồng nàn yêu nước”.
 
Tác giả đã dùng thao tác so sánh để có thể nhận rõ sự khác nhau và giống nhau. Câu văn trên được viết nhằm nhấn mạnh sự giống nhau “nơi nồng nàn yêu nước”.
 
b) Trong đoạn Bàn về việc so sánh đức nhà Lí và nhà Lê trong Đại Việt sử kí, tác giả dã nhấn mạnh sự khác nhau về sự nghiệp nhưng giống nhau ở công lao.
 
Thao tác so sánh có hai loại chính: so sánh để nhận ra sự giống nhau (tương đồng) và so sánh để nhận ra sự khác nhau (đối lập).
 
c) - Chúng ta không thể tán đồng ý kiến “mọi so sánh đều là khập khiễng”. Bởi vì khi so sánh bao giờ người ta cũng dựa trên những nét tương đồng của đối tượng để đối tượng hiện ra một cách rõ ràng nhất. Muốn vấn đề được nhận biết một cách rõ ràng, chắc chắn thì không thể không sử dụng thao tác so sánh.
 
- Để có thể so sánh đúng cách thì ta phải chú ý những điều sau:
 
+ Những đối tượng được so sánh phải có mối liên quan với nhau về một mặt nào đó.
 
+ Sự so sánh phải dựa trên những tiêu chí cụ thể, rõ ràng và có ý nghĩa quan trọng đôi với sự nhận thức bản chất của vấn đề.
 
+ Những kết luận rút ra từ sự so sánh phải chân thực, mới mẻ, bổ ích, giúp cho việc nhận thức sự vật được sáng tỏ và sâu sắc hơn.
 
LUYỆN TẬP
 
1. - Tác giả muôn chứng minh “Thơ nôm Nguyễn Trãi đã tiếp thu nhiều thành tựu của văn hóa dân gian, văn học dân gian”.
 
- Để làm rõ điều chứng minh tác giả đã sử dụng những thao tác chứng minh, phân tích, tổng hợp, khái quát.
 
- Cách dùng những thao tác nghị luận đó hay ở chỗ để chứng minh, tác giả đã chia luận điểm thành những bộ phận nhỏ, nhờ thế luận điểm đã được xem xét một cách kĩ
lưỡng. Và từ các chi tiết ấy tác giả tổng hợp, khái quát để mở rộng vấn dề. Vì thế tầm quan trọng của vấn đề được nâng lên rất nhiều.
 
2. Viết đoạn văn nghị luận về đề phòng tai nạn giao thông:
 
Tai nạn giao thông đang là vấn đề nhức nhối của xã hội Việt Nam. Nó làm thiệt hại rất lớn về người và của. Vì vậy, để hạn chè đèn mức thấp nhất tai nạn, mỗi một học sinh phải có ý thức cao khi tham gia giao thông. Chúng ta phải tuyệt đối tuân thủ các qui định của luật giao thông. Khi ra đường, các bạn tuyệt đối không đi hàng hai hàng ba, không chở quá sô' người qui định, không lạng lách đánh võng, đua xe... Từ cổng trường đến cổng bệnh viện không xa nếu các bạn xem thường luật giao thông. Tuân thủ luật giao thông là vấn đề sống còn để bảo vệ tính mạng cũng như tài sản của mỗi người.
Nguồn: