Soạn bài Chiều Tối (Mộ) của Hồ Chí Minh

Thứ hai , 18/12/2017, 10:02 GMT+7
Soạn bài Chiều Tối (Mộ) của Hồ Chí Minh
A - MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
 
- HS cảm nhận được bức tranh thiên nhiên chiều tối được khắc họa trong bài thơ đồng thời thấy được một vẻ đẹp của tâm hồn Hồ Chí Minh: dù hoàn cảnh khắc nghiệt đến đâu vẫn luôn hướng về sự sống và ánh sáng.
 
- Cảm nhận được bút pháp tả cảnh ngụ tình vừa cổ điển vừa hiện đại của bài thơ.
 
B - NỘI DUNG BÀI HỌC
 
I- ĐỌC - HIỂU TIỂU DẪN
 
Bài tập. Đọc phần Tiểu dẫn (SGK) và nêu hoàn cảnh sáng tác Nhật kí trong tù, hoàn cảnh sáng tác bài Mộ.
 
Gơi ý: Như chúng ta đã biết, trong thời gian hơn một năm bị giam giữ ở 30 nhà lao thuộc 13 huyện của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), Bác Hồ đã viết Nhật kí trong tù. "Nhật kí trong tù thể hiện đậm nét phong cách nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh: hồn nhiên, bình dị, cổ điển mà hiện đại, chiến sĩ mà thi sĩ" (Nguyễn Đăng Mạnh). Bài thơ Mộ (Chiều tối) là một bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ nghệ thuật của Hồ Chí Minh nói chung và phong cách Nhật kí trong tù nói riêng.
 
II- ĐỌC - HIỂU VÀN BẢN
 
Bài tập 1- Đọc và phát biểu cảm nhận chung nhất của anh (chị) về bài thơ.
 
Yêu cầu và gợi ý;
 
+ HS đọc bản dịch. Chú ý ngữ điệu phù hợp với cảm xúc, tâm trạng của Bác qua những hình ảnh trong bài thơ.
 
+ Mộ là một bài thơ tức cảnh, một bức tranh chấm phá về thiên nhiên, một ánh "thép" lấp lánh của một tâm hồn đằm thắm chất trữ tình. Bài thơ mang màu sắc cổ điển và tinh thán hiện đại, đó là sự hài hòa giữa chất thép và chất tình, giữa hiện thực và lãng mạn.
 
+ Mộ diễn tả một cách thần tình sự vận động của thời gian, không gian, cảnh vật, con người và cùng với sự vận động ấy là sự vận động của tư tưởng, tình cảm, tâm trạng người làm thơ (nhà thơ, nhà cách mạng Hồ Chí Minh). Qua đó, chúng ta hiểu được tâm hồn của Người: trong bất kì hoàn cảnh nào cũng hướng về sự sống, ánh sáng và hạnh phúc con người.
 
Bài tập 2. Đọc bản phiên âm, dịch nghĩa và so sánh với bản dịch thơ để cảm thụ được ý nghĩa của nguyên tác.
 
Gợi ý:
 
+ Câu thơ thứ hai bản dịch không diễn tả được hình ảnh "cô vân" (chòm mây lẻ loi, cô độc). Chuyển động của mây: "mạn mạn" (trói chậm chạp gợi vẻ uể oải, lững lờ), dịch là "chòm mây trôi nhẹ” là không chuyên tải hết được tâm trạng của người nhìn mây trôi.
 
+ Câu thơ thứ ba trong nguyên tác không có chữ nào nghĩa là "tối". Không nói "tối" mà vẫn diễn tả được trời tối, ấy mới là cái tài tình của Đường thi trong nét bút tài hoa của người nghệ sĩ cách mạng Hồ Chí Minh.
 
+ Hai câu 3 và 4 trong nguyên tác có hiện tượng điệp liên hoàn (cuối - đầu). Mấy chữ: "ma bao túc" - "bao túc ma hoàn" diễn tả được sự vận động xoay tròn của cái cối xay bên lò lửa. Phải chăng đó cũng là vòng quay của thời gian: một ngày chấm dứt khi ánh lửa hồng bập bùng hiện lên.
 
IV- LUYỆN TẬP
 
Bài tập 1- Nêu cảm nghĩ về sự vận động của cảnh vật và lòng người trong bài thơ.
 
Gợi ý: Xem lại phần Bài học và tổng hợp những kiến thức có liên quan tới nội dung câu hỏi:
 
+ Sự vận động của cảnh vật.
 
+ Sự vận động của lòng người.
 
Bài tập 2- Trong bài thơ, đâu là hình ảnh đẹp nhất, thể hiện tập trung nhất vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh?
 
Gơi ý:
 
+ Có thể chọn những hình ảnh khác nhau tùy theo sự cảm nhận và sự lí giải. Nhưng hình ảnh bếp lửa "hồng" vẫn là hình ảnh đẹp nhất.
 
+ Phân tích trên cơ sở bài học.
 
Bài tập 3- Trong bài "Đọc thơ Bác", Hoàng Trung Thông viết:
 
Vần thơ của Bác vẩn thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình.
 
Điều đó thể hiện trong bài "Chiều tối" như thế nào?
 
Gơi ý:
 
+ "Thép" là tinh thần, tư tưởng cứng rắn vượt lên hoàn cảnh, hướng tới sự sống, ánh sáng và tương lai.
 
+ "Tình" là tâm hồn mềm mại, tinh tế, nhạy cảm, lãng mạn.
 
+ "Thép" và "tình" hòa vào nhau khiến nhà thơ cách mạng Hổ Chí Minh vừa là một chiến sĩ vừa là một thi sĩ, bài thơ vừa mang màu sắc cổ điển vừa toát lên tinh thần hiện đại.
 
V- HƯỚNG DẪN HỌC Ỏ NHÀ
 
- Đọc thuộc lòng bản phiên âm và bản dịch của bài thơ.
 
- Hoàn chỉnh các bài luyện tập.
 
- Đọc thêm những sách tham khảo về Nhật kí trong rù.
 
- Đọc tập thơ Từ ấy của Tố Hữu, các tài liệu tham khảo về nhà thơ Tố Hữu, tập thơ7Yrỡý và bài thơ cùng tên.
 
- NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THAM KHẢO
 
1- Tháng 2 năm 1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc về nước. Tháng 8 năm 1942, Người lấy tên Hồ Chí Minh và lên đường sang Trung Quốc với danh nghĩa là đại biểu của Việt Nam độc lập Đồng minh và phân ban quốc tế chống xâm lược Việt Nam để tranh thú sự viện trợ của quốc tế. Khi đặt chân đến huyện Túc Vinh, tỉnh Quảng Tây, Người bị chính quyền Tướng Giới Thạch bắt giam rồi bị giải tới giải lui qua 30 nhà lao thuộc 13 huyện của tỉnh Quảng Tây, chịu trăm nghìn khổ cực. Sau gần 14 tháng ở tù, tháng 9 năm 1943, Người được trả tự do. Trong thời gian ở tù, Hồ Chí Minh đã sáng tác Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù) bằng chữ Hán gồm 135 bài thơ (kể cả 1 bài có tiêu đề mà không có nội dung và bài Tân xuất ngục học đăng sơn làm khi Người đã được trả tự do).
 
Ngày 6 tháng 6 năm 1946 trên báo Đồng minh số 43 có bài viết của TS (có khả năng là Lê Tùng Sơn - một nhà cách mạng Việt Nam hoạt động lâu năm ở Trung Quốc) giới thiệu sơ lược Quyển nhật kí thơ của cụ Hồ.
 
Tháng 9 năm 1956, nhà thơ Nam Trân có đưa cho PGS Phan Ngọc xem một tập ảnh chụp quyển Ngục trung nhật kí của Hổ Chí Minh.
Năm 1960, Ngục trung nhật kí được dịch và giới thiệu rộng rãi.
 
2- Nhật kí nói chung là thể loại ghi chép những sự thật hàng ngày có quan hệ riêng với người viết và được người viết quan tâm ghi lại với những cảm nghĩ riêng. 54 
Nhật kí trong tù là tập nhật kí bằng thơ nên những sự việc, hiện tượng đều được ít nhiều gửi gắm vào đấy tình cảm, cảm xúc của tác giả. Nhiều bài thơ chủ yếu không phải chỉ ghi chép sự việc, hiện tượng bên ngoài quan sát được mà ghi lại những diễn biến nội tâm người viết. Vì vậy Nhật ki trong tù là một nhật kí tâm sự, nhật kí trữ tình. Nhật kí trong tù ít nhiều có tính hướng ngoại nhưng chủ yếu là hướng nội. Sự thật khách quan được phản ánh trung thực nhưng còn một sự thật khác được phản ánh một cách phong phú và sâu sắc - sự thật nội tâm. Nhật kí là ghi chép theo trình tự thời gian hàng ngày. Vì thê theo dõi từ bài đầu đến bài cuối có thể thấy được diễn biến nội tâm của tác giả trong 14 tháng ở tù.
 
3- Nhật kí trong tù có thể xem như một bức chân dung tự họa con người tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bên cạnh tinh thần kiên cường bất khuất là một tâm hồn mềm mại tinh tế, nhạy cảm với mọi biến thái của thiên nhiên và con người. Bén cạnh phong thái ung dung tự tại hết sức thoải mái như bay lượn trong vùng trời tự do là tâm trạng nóng lòng sốt ruột như lửa đốt ngóng về Tổ quốc. Người có trằn trọc àu lo thậm chí trắng đêm không ngủ nhưng trên hết vẫn một lòng lạc quan tin tưởng. Người luôn hướng về một tương lai tươi sáng, hướng về binh minh và mặt trời hồng.
 
"Nhật kí trong tù thể hiện đậm nét phong cách nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh: hồn nhiên bình dị, cổ điển mà hiện đại, chiến sĩ mà thi sĩ, luôn ẩn hiện một nụ cười thoải mái trẻ trung pha lẫn chất hóm hỉnh hài hước, vừa sâu vừa sắc" (Nguyễn Đãng Mạnh). Nhụt kí trong tù rất giàu cảm hứng về thiên nhiên. Thiên nhiên được thể hiện như những thực thể tinh thẫn có linh hồn. Điểm nhìn thiên nhiên thường từ cao, từ xa như muốn bao quát cả càn khôn vũ trụ. Bút pháp miêu tả thiên nhiên thường chỉ bằng vài nét chấm phá mà ghi lại cả linh hồn tạo vật. Chất cố điển của tập thơ còn thể hiện ở phong thái ung dung nhàn tản của nhân vật trữ tình. Phần lớn các bài trong Nhật kí trong tù là thơ tứ tuyệt mà đặc điểm nổi bật là sự cô đọng hàm súc. Nội dung ý nghĩa phong phú, sâu rộng được dồn nén trong một khuôn khổ hạn chế nên bài thơ thường có kết cấu chặt chẽ, lời ít ý nhiều, gợi nhiều hơn tả, hình tượng đa diện, ngôn ngữ đa nghĩa,... Bút pháp cổ điển được kết hợp hài hòa với tinh thần hiện đại tạo nên một nét phong cách nổi bật của tập thơ. Hình tượng thiên nhiên thường không tĩnh lặng mà hoạt động khỏe khoắn, hướng đến sự sống, ánh sáng. Trong quan hệ hòa hợp giữa nhân vật trữ tình với thiên nhiên, không phải thiên nhiên là chủ thể mà con người là chủ thể, con người khống ẩn dật, không hòa tan vào thiên nhiên mà hiện lên trước thiên nhiên như một nhân vật hành động làm chủ tình thế. Tinh thần dân chủ được thể hiện sâu sắc ở đề tài (giản dị và phong phú), ở tư tưởng (hướng về cuộc sống sinh hoạt bình dị, thậm chí "vặt vãnh" đời thường), ở nhân vật trữ tình (khiêm tốn, hòa hợp, không đặt mình lên trên những con người bình thường), ở hình ảnh ước lệ tượng trưng (dân chủ hóa hệ thống ước lệ của thơ ca cổ), ớ ngôn từ, giọng điệu (không thích cao giọng, lên gân, không ưa đại ngôn tráng ngữ).
 
4- Hoàn cảnh sáng tác cụ thê của bài thơ Mộ: Ngày 10 tháng 10 năm 1942, nhân ngày quốc khánh nước Trung Hoa cũ, Bác bị giải từ nhà lao huyện Tĩnh Tây đến nhà lao huyện Thiên Bảo. Trên con đường chuyển lao gần 100 cây số, Bác đã sáng tác 5 bài thơ ghi lại chặng đường gian truân "trèo núi qua truông", "dầm mưa dãi nắng", đêm ngủ chân bị cùm, muỗi rệp thi nhau hành hạ. Trong chùm thơ 5 bài đó, Mộ là bài thứ ba. Bài thơ không kể nỗi vất vả dọc đường mà là một bài tức cảnh.
Nguồn: