Soạn bài Lập dàn ý bài văn nghị luận

Thứ sáu , 14/04/2017, 11:43 GMT+7
KIẾN THỨC CƠ BẢN. I/ Tác dụng của việc lập dàn ý. - Lập dàn ý giúp cho người viết lựa chọn, sắp xếp ý thành một hệ thống chặt chẽ và bao quát được nội dung cơ bản, nhờ dó mà tránh tình trạng lạc dề hoặc lặp ý, tránh được việc bỏ sót ý hoặc triển khai ý không cân xứng.
- Có dàn ý người viết sẽ phân phối thời gian hợp lí khi viết bài
 
II/ Cách lập dàn ý bài văn nghị luận:
 
1. Tìm ý cho bài văn
 
11. Đọc kỹ đề để xác định ba yêu cầu của đề:
 
+ nội dung nghị luận (luận đề)
 
+ yêu cầu thể loại nghị luận + phạm vi tư liệu
 
1.2. Xác định các luận điểm (ý lớn).
 
- Đề bài có nhiều ý thì ứng với mỗi ý là một luận điểm.
 
- Đề bài có một ý thì ý nào cụ thể hoá ý đó là những luận điểm. Nội dung kiến thức này ở trong bài học, tư liệu hoặc vốn tự có.
 
1.3. Tìm luận cứ cho các luận điểm.
 
Mỗi luận điểm cần cụ thể hoá thành nhiều ý nhỏ hơn gọi là luận cứ.
 
Số lượng ý nhỏ và cách triển khai tuỳ thuộc vào ý lớn.
 
Ý nhỏ có khi được gợi từ đề bài nhưng phần lớn là từ kiến thức của bản thân.
 
2. Lập dàn ý ba phần:
 
a) Mở bài: Giới thiệu luận đề
 
b) Thân bài: Triển khai nội dung theo hệ thống các ý lớn, ý nhỏ đã tìm.
 
c) Kết bài: Tổng kết nội dung trình bày, liên hệ mở rộng, nâng cao vấn đề.
 
LUYỆN TẬP
 
1. a) Bố sung các ý còn thiếu:
 
- Đức và tài cần phải hội đủ ở mỗi con người.
 
- Phê phán kẻ có tài thiếu đức, kẻ có đức kém tài, kẻ thiếu cả đức cả tài.
 
- Luôn rèn đức luyện tài để trở thành người hoàn thiện, b) Lập dàn ý:
 
Mở bài:
 
- Giới thiệu lời dạy của Hồ Chí Minh.
 
- Định hướng nội dung và dẫn vào thân bài.
 
Thân bài:
 
Lần lượt trình bày các nội dung đã xác định ở trên.
 
- Giải thích khái niệm tài và đức.
 
- Có tài mà không có dức là người vô dụng. 
 
- Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.
 
- Đức và tài cần phải hội đủ ở mỗi con người.
 
- Phê phán kẻ có tài thiếu đức, kẻ có đức kém tài, kẻ thiếu cả đức cả tài.
 
- Luôn có ý thức rèn đức luyện tài để trở thành người hoàn thiện.
 
Kết bài:
 
- Giá trị lời dạy của Bác.
 
- Hướng phấn đấu của bản thân.
 
2. Lập dàn ý:
 
Mở bài:
 
Trong cuộc sống, con người thường gặp những khó khăn. Điều đó đã hạn chế khả năng phát triển của con người. Vì vậy tục ngữ có câu: “Cái khó bó cái khôn”. Tuy nhiên trong những tình huống nan giải, đòi hỏi phải xử lí đối phó, buộc phải tìm tòi suy nghĩ thì sáng kiến mới dược nảy sinh. Do đó, tục ngữ cũng có câu: “Cái khó ló cái khôn”.
 
Thân bài:
 
- “Cái khó” là những khó khăn, “bó” là trói buộc, “cái khôn” là những tìm tòi, sáng tạo.
 
- Trong thực tế đời sống, những khó khăn thường hạn chế tài năng và sức sáng tạo của con người. (Dẫn chứng: Một học sinh nghèo phải dành thời gian làm việc giúp đỡ gia đình nên ít đầu tư cho việc học, không giải dược những bài toán khó.)
 
- Tuy nhiên câu tục ngữ chưa phải đúng hoàn toàn. Con người cần phải nỗ lực vươn lên trong mọi hoàn cảnh, không nên viện hoàn cảnh khó khăn để bao biện cho sự yếu kém về nghị lực. (Dẫn chứng từ cuộc đời của rất nhiều danh nhân).
 
- Phân tích câu tục ngữ “Cái khó ló cái khôn”. Hoàn cảnh thúc ép làm nảy sinh sáng kiến, nhưng với điều kiện phải chịu khó đầu tư suy nghĩ: Chuyện ơ-rê-ka (tìm thấy rồi) của Ac-si-met, Chuyện quả táo rơi (về lực hấp dẫn) của Niu-tơn...
 
- Phải biết cảm thông cho những người chưa thành đạt, phê bình những người thiếu ý chí, thất bại thường đổ lỗi cho hoàn cảnh, số phận.
 
Kết bài:
 
- Khó khăn chính là sự thử thách nghị lực.
 
- Bài học bản thân.
Nguồn: