Soạn bài Lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu

Thứ sáu , 13/10/2017, 21:46 GMT+7
Soạn bài Lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu
 
- Đoạn trích nói lên lẽ ghét thương phân minh của ông Quán, cũng chính là nói lên nỗi ghét thương phân minh, mãnh liệt của Nguyễn Đình Chiểu. Không những thế, đoạn trích còn thế hiện tấm lòng thương dân sâu sắc của nhà thơ.
 
1. Đoạn trích Lẽ ghét thương nói lên những tình cảm yêu ghét rất phân minh, mãnh liệt của Nguyễn Đình chiểu thông qua nhân vật ông Quán.
 
Lục Vân Tiên và Vương Tử Trực (người bạn mới gặp), hai người đã kết nghĩa anh em. Họ tới kinh đô ứng thí, vào một quán trọ đế nghỉ ngơi, ơ đây họ gặp hai sĩ tử khác là Trịnh Hâm và Bùi Kiệm. Bốn người cùng uống rượu làm thơ và trố tài cao thấp. Ông Quán là người chứng kiến bốn sĩ tử thi thố tài năng và ông đã phát biếu quan điểm của mình. Đoạn trích có hai mươi sáu câụ, trong đó 10 câu nói về lẽ ghét, còn lại nói về lẽ thương. Mở đầu đoạn trích là lời giãi bày của ông Quán:
 
Quán rằng kinh sử đã từng
Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa
Hỏi thời ta phải nói ra
Vì chưng hay ghét cũng là hay thương.
 
Ông Quán là người đã đọc các loại kinh truyện và sách sử mà học trò thời xưa phải học đế đi thi nên ông thấy lòng mình xót xa bởi ông hiểu nhân vật nào trong lịch sử là tốt, những nhân vật nào là xấu. Từ chỗ am hiểu, ông đã nói rất rõ quan điểm của mình về ghét và thương. 
 
a) Lẽ ghét của ông Quán
 
- Những điều ông Quán ghét:
 
+ Ghét chuvện “tầm phào”, nghĩa là ông ghét những chuyện vu vơ, hão huyền, không có ý nghĩa gì. Ông không chỉ ghét bình thường mà “Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm”. Điều ông ghét là hoàn toàn đúng bởi vì những chuyện như thế chẳng đem lại lợi ích gì cho cuộc sông của người dân.
 
+ Ông ghét đời vua Kiệt nhà Hạ, vua Trụ nhà Thương. Đây là hai ông vua bạo ngược, vô. đạo trong lịch sử Trung Quốc. Ông ghét vì những ông vua này chỉ biết ăn chơi, hưởng thụ mà không quan tâm đến cuộc sống của người dân “Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang”. Cụm từ “sa hầm, sẩy hang” đã diễn tả được nỗi thống khổ của người dân phải sống dưới hai triều đại này.
 
+ Ông “Ghét đời u lệ đa đoan” vì vua Ư Vương và vua Lệ Vương là hai ông vua khét tiếng tàn bạo, hoang dâm đời nhà Chu. Dưới triều đại của hai ông vua này, nhân dân “luống chịu lầm than muôn phần”.
 
+ Ông “Ghét đời Ngũ bá phân vân” vì năm vua chư hầu kế tiếp nhau nổi lên làm bá chủ. Họ dựa trên uy lực, kéo bè, kết cánh đánh lẫn nhau, gây nên loạn lạc, khiến nhân dân phải điêu đứng lầm than.
 
+ Ông “Ghét đời thúc quý phân băng” vì đây là đời suy loạn sắp bị diệt vong. Việc đầu hàng, đánh nhau lằng nhằng chĩ làm khổ người dân inà thôi.
 
- Lí do ông Quán ghét
 
Tất cả những lí do ông Quán đưa ra đều rất xác đáng. Dưới những triều đại đó chỉ có người dân là phải gánh chịu mọi tai ách, khổ sở trăm chiều. Như vậy, tác giả đã đứng về phía nhân dân, xuất phát từ quyền lợi của nhân dân mà phẩm bình lịch sử. Đó là cơ sỏ' của lẽ ghét, ghét sâu sắc, mãnh liệt đến độ tận cùng của cảm xúc: “Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm”. Nguyễn Đình Chiểu đã mượn nhân vật ông Quán để nói lên suy nghĩ, tình cảm và thái độ trước những kẻ đi ngược lại với quyền lợi của người dân. Điệp từ “ghét” được lặp lại 12 lần có tác dụng nhấn mạnh lẽ ghét của ông Quán đối với những kẻ chuyên làm những điều hại dân.
 
b) Lẽ thương của ông quản
 
- Những đối tượng ông Quán thương:
 
+ Ông thương “đức thánh nhân” tức thương Khổng Tử, người nước Lỗ, thời Xuân Thu. Khổng Tử đã đi nhiều nước tìm cách hành đạo nhưng không thành, sau trỏ' về nước Lỗ mở trường dạy học.
 
+ Ông thương Nhan Tử, người học trò đức hạnh nhất của Khổng Tử, rất hiếu học nhưng lại chết sớm.
 
+ Thương ông Gia Cát Lượng, tức Khổng Minh, sống thời Tam quốc, làm quân sư cho Lưu Bị, mong khôi phục cơ nghiệp nhà Hán nhưng không gặp thời vận, cho đến lúc ông mất, chí nguyện vẫn chưa thành.
 
+ Thương thầy Đổng Tử, một bậc đại nho thời Hán, học rộng tài cao từng ra làm quan nhưng không được trọng dụng không có điều kiện để thi thố tài năng.
 
+ Thương ông Đào Tiềm, tính tình cao thượng, không cầu danh lợi, giỏi thơ văn, không chịu khom lưng uốn gối trước quan trên nên ông về ở ẩn.
 
+ Thương ông Hàn Dũ, nhà văn nổi tiếng thời Đường, đỗ Tiến sĩ làm quân trong triều, vì dâng sớ can ngăn vua không nên quá mê tín đạo Phật mà bị giáng chức và đày đi xa.
 
+ Thương “thầy Liêm, Lạc” tức thương những người triết gia nổi tiêng thời Tống, ra làm quan nhưng không được trọng dụng, lui về dạy học và trở thành những thầy giáo nổi tiếng.
 
- Lí do ông thương: Tất cả những người ông quán thương đều là những người có tài, có đức và có chí muốn hành đạo giúp đời, giúp dân nhưng đều không đạt sở nguyện.
 
c) Môi quan hệ khăng khít không thế tách rời giữa hai tình cảm ghét - thương trong tâm hồn nhà thơ.
 
Bởi thương đến xót xa trước cảnh nhân dân phải chịu lầm tha khổ cực, thương những con người tài đức mà bị dập vùi, phải mai một tài năng và chí nguyện bình sinh nên Nguyễn Đình Chiểu càng cảm ghét những kẻ hại dân, hại đời, đẩy con người vào những cảnh éo le, oan nghiệt. Giữa cuộc đời đầy rẫy những bất công ngang trái, trái tim yêu thương của nhà thơ đã cất lên tiêhg nói bất bình, căm hận những gì lỗi đạo trời, trái đạo người. Đỉnh cao tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Đình Chiểu chính ỉà “Vỉ chưng hay ghét cũng là hay thương”.
 
III. KẾT THÚC VẤN ĐỂ
 
- Ông Quán là người đă phát ngôn cho những tư tưởng nung nấu trong tâm can của Đồ Chiểu. Nhân vật ông Quán tiêu hiểu cho một thái độ sống, một cách ứng xử của các nhà nho ngày xưa, vốn “kinh sử đã từng” nhưng khi thời thế không thuận chiều, thì lui mình về ẩn dật đế giữ cho mình khỏi vấy bùn nhơ. ông Quán bộc trực, thẳng ngay, phân minh, rạch ròi bởi giàu tình thương nên cũng nặng nỗi ghét. 
 
- Đoạn thơ mang tính chất triết lí đạo đức nhưng không hồ khô khan, cứng nhắc mà dạt dào cảm xúc. Những cảm xúc sâu sắc mà nồng đậm đó xuất phát từ cõi tâm trong sáng cao cả của nhà thơ, từ một trái tim sâu nặng tình người, tình đời thông qua những lời lẽ có khi mộc mạc đến thô sơ, cứ thế di thẳng vào trái tim người đọc, người nghe, để lại nhừng ấn tượng khó phai nhoà.
 
- Đoạn trích Lẽ ghét thương là một trong những đoạn thơ hay, nói lên những tình cảm yêu ghét rất phân minh, mãnh liệt và tấm lòng thương dân sâu sắc của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.
 
Nguồn: