Soạn bài Thực hành các phép tu từ, Phép điệp và Phép đối

Thứ sáu , 14/04/2017, 15:30 GMT+7
Soạn bài Thực hành các phép tu từ, Phép điệp và Phép đối nâng cao (ngữ văn lớp 10). I/ Luyện tập về phép điệp (điệp ngữ)
1. a) - Nếu thay thế nụ tầm xuân bằng hoa tầm xuân hay hoa cây này... thì câu ý của câu ca dao sẽ khác, tức câu ca dao không thể hiện được nét đẹp tươi tắn của cô gái đang độ xuân thì. Hình ảnh nụ tầm xuân thể hiện vẻ đẹp e ấp hơn là hoa tầm xuân.
 
- Có sự lặp từ cá mắc câu ở câu sau là tác giả muốn nhấn mạnh đến tình cảnh bị trói buộc đầy ray rứt của cô gái. Nếu không lặp lại như thế thì sự so sánh chưa rõ ý. Cách lặp này giống với nụ tầm xuân ở câu trên.
 
b) Trong các câu ở ngữ liệu (2), việc lặp từ như thế không phải là phép điệp tu từ. Việc lặp từ ở những câu đó có tác dụng liệt kê.
 
c) Định nghĩa về phép điệp:
 
Phép điệp là biện pháp tu từ lặp lại một số yếu tố diễn đạt (vần, nhịp, từ, cụm từ, câu) nhằm nhấn mạnh, biểu đạt cảm xúc và ý nghĩa, có khả năng gợi hình tượng nghệ thuật. 
 
2. a) Ba ví dụ có điệp từ, điệp câu nhưng không có giá trị tu từ:
 
Chúa ăn rồi chúa lại ngồi.
Bắt thằng con ở dọn nồi dọn niêu.
 
Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông.
 
Trên trời có đằm mây xanh.
Ớ giữa mây trắng chung quanh mây vàng.
 
b) Ba ví dụ trong những bài văn đã học có phép điệp:
 
Nhớ chàng thăm thẳm đường lèn bằng trời.
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
(Chinh phụ ngâm)
 
Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất.
Khăn thương nhớ ai,
Khăn vắt lèn vai.
(Ca dao yêu thương tình nghĩa)
 
Yêu nhau, yêu trọn đời gỗ cứng Yêu nhau, yêu trọn kiếp đến già.
(Tiễn dặn người yêu)
 
c) Viết đoạn văn có phép điệp:
 
Anh giải phóng quân ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất. Anh ngã xuống cho quê hương đứng dậy. Anh ngã xuống cho đất nước vươn vai. Anh ngã xuống cho tương lai rạng rỡ trên mảnh đất dã gánh chịu quá nhiều đau thương.
 
II/ Luyện tập về phép đối
 
1. a) Ở ngữ liệu (1) và (2) cách xếp từ ngữ ở thế cân xứng nhau. Sự phân chia thành hai vế cân dối được gắn kết lại nhờ phép đối. Vị trí của các danh từ, tính từ, động từ tạo thế cân đối hoàn chỉnh, nhịp nhàng.
 
b) Trong ngữ liệu (3) cách đối là trong phạm vi một câu thơ (câu bát). Trong ngữ liệu (4) vế đối nằm ở hai câu liền kề nhau.
 
c) - Phép đối trong Hịch tướng sĩ:
 
Uốn lưỡi cú diều mà chửi mắng triều đình.
Đem thân dế chó mà bắt nạt tể phụ.
Phép đối trong Đại cáo binh Ngô:
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập.
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.
 
Phép đối trong Truyện Kiều:
 
Người quốc sắc, kẻ thiên tài
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
 
Thơ Đường luật:
 
Bỏ nhà lủ trễ lơ xơ chạy,
Mất ổ bầy chim dáo dác bay.
(Chạy Tây- Nguyễn Đình Chiểu)
 
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
(Qua Đèo Ngang- Bà Huyện Thanh Quan)
 
- Một số câu đối:
 
Tết rồi lại Tết, trời đất xoay vần Xuân đâu thiếu.
Xuân lại gặp Xuân, buôn làng no đủ Tết có thừa.
(Phong Tâm)
 
Giàu có thiếu gì tiền, đi một vài quan không phải lẽ;
Sang không thì ra bạc, gửi năm ba chữ gọi là tình.
{Mừng đám cưới - Nguyễn Khuyến)
 
d) Định nghĩa về phép đối:
 
Phép đôi là cách sắp xếp từ ngữ, cụm từ và câu ở vị trí cân xứng nhau để tạo hiệu quả giống nhau hoặc trái ngược nhau nhằm mục đích gợi ra một vẻ đẹp hoàn chỉnh và hài hòa trong diễn đạt nhằm diễn đạt một ý nghĩa nào đó.
 
2. a) - Phép đối trong tục ngữ có tác dụng làm nổi bật nội dung nhờ sự tương phản hoặc tương đồng.
 
- Không thể thay thế những từ trong đó vì nếu thay sẽ làm thay đổi nội dung.
 
- Phép đối phải dựa vào sự tương phản hoặc tương đồng của vần, từ, câu.
 
b) Tục ngữ ngắn mà khái quát được hiện tượng rộng, người không học mà cũng nhớ, không có ý ghi lại mà vẫn được lưu truyền; điều đó có được là nhờ tục ngữ sử dụng từ ngữ hình ảnh có sức khái quát và giàu tính biểu tượng. Tục ngữ thường có vần, có nhịp, đặc biệt là sử dụng phép đối nên dễ đọc, dễ nhớ.
 
3. a) Ví dụ:
 
- Kiểu đối thanh:
 
+ Bằng đối trắc:
 
Bà chúa đứt tay (bằng) bằng ăn mày sổ ruột (trắc). + Trắc đối bằng:
 
Nước chảy (trắc), đá mòn (bằng).
 
- Kiểu đối nghĩa:
 
Được làm vua, thua làm giặc.
 
Miệng nam mô, bụng bồ dao găm.
 
- Kiểu đối từ loại:
 
+ Tính từ đối tính từ, danh từ đối danh từ:
 
Chắc rề, bền cây.
 
+ Tính từ đối tính từ, động từ dối động từ:
 
Mềm nắn, rắn buông.
 
Say rượu say thơ, say mà tỉnh,
Say tình say nghĩa, tỉnh mà say.
 
b) Ra một vế đối:
 
Tết đến, cả nhà vui như Tết
Xuân về, khắp nẻo đẹp như Xuân.
Tập thể, tập thể dục.
Tết đến, trẻ già đều phấn khởi.
 
Nguồn: