Soạn bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Thứ sáu , 14/04/2017, 11:37 GMT+7
KIẾN THỨC CƠ BẢN I/ Hiểu biết chung (xem phần tiểu dẫn SGK) - Tác giả bản chữ Hán: Đặng Trần Côn, sáng tác khúc ngâm khoảng đầu đời Cảnh Hưng (1741), gồm 478 câu thơ theo thể trường đoản cú. (Theo Từ điển văn học thì có 483 câu).
- Dịch giả bản chữ Nôm: Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748). Bản diễn Nôm gồm 412 câu thơ thể song thất lục bát. Hiện còn có bảy bản dịch của nhiều tác giả khác nhau.
 
 
- Chinh phụ ngâm lên án chiến tranh phong kiến phi nghĩa - triều đình phong kiến đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân, thể hiện tâm trạng cô đơn đau buồn, mòn mỏi đợi chờ của người vợ có chồng theo lệnh vua ra trận không hẹn ngày về. Tác phẩm còn làm toát lên niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi. Do đó Chinh phụ ngâm mang đậm tinh thần nhân văn.
 
- Đoạn trích Tình cảnh lể loi của người chinh phụ thể hiện tâm trạng buồn cô đơn và niềm khát khao hạnh phúc của người chinh phụ. (Nhan đề doạn trích do người soạn sách giáo khoa đặt)
 
II/ Huớng dẫn cảm thụ
 
1. Tâm trạng sầu não, chờ đợi mỏi mòn vô vọng (16 câu đầu).
 
a) Bốn câu thơ đầu gợi tả hình ảnh người chinh phụ di đi lại lại, quẩn quanh trong nhà với hành vi vô cảm: cuốn rèm lên rồi thả xuống... -» thể hiện tâm trạng thờ thẫn, trong lòng chồng chất ưu tư, trĩu nặng u buồn, tâm tư dang gói kín nên muốn giãi bày nhưng lẻ bóng như ngọn đèn hắt hiu.
 
Nàng đi lại lặng im ra vào bên hiên vắng như đi chờ đợi tin tức tốt lành của chồng, nhưng bặt tin -» biểu hiện không khí tù túng, bế tắc. Trong cảnh lẻ loi, nàng đành tâm sự với ngọn đèn, nghĩa là tâm sự với chính mình. Ngôn ngữ đối thoại cũng chính là độc thoại nội tâm.
 
b) Nàng đã cất tiếng như muốn phá tan không khí trầm tịch của ngôi nhà: 
 
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riềng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
 
Điệp từ “biết”, rồi luyến láy âm “iết”, câu thơ vang lên âm điệu da diết, diễn tả âm vang của cõi lòng căng thẳng chờ đợi trong cô đơn, câu thơ tiếp theo hạ thấp cung trầm, âm điệu chùng xuống vì vô vọng, diễn tả trạng thái não lòng. Biện pháp so sánh giữa hoa đèn với người càng làm nổi bật cảnh đơn độc thương tâm. Hoa đèn là bạn càng làm cho cảnh thêm trống vắng mênh mông. Nàng đã thao thức :ùng ngọn đèn suốt canh thâu trong cảnh thiếu vắng hạnh phúc.
 
 
c) Hừng đông hé mở, tiếng gà eo óc gọi bình minh, sương mai còn phủ trên ngọn hoè là đà. Trong không gian thinh vắng, một ngày mới bắt đầu, nhưng tiếng gà tức nghẹn, mỏi mệt, rời rã đó không hứa hẹn có tin tốt mà góp phần diễn tả tâm trạng não nùng của người chinh phụ. Ngày hôm nay sẽ chẳng khác gì ngày hôm qua, buồn đau vẫn còn vây kín như cây hoè rủ bóng bốn bên quanh nhà. Nàng buộc phải sống chung với chờ đợi và sầu não:
 
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dàng dặc tựa miền biển xa.
 
So với nguyên bản chữ Hán thì câu thơ dịch rất sáng tạo. Đặng Trần Côn viết: sầu tự hải / Khắc như niên. Còn Đoàn Thị Điểm đã dùng những từ láy để diễn tả tâm trạng tinh tế hơn, nhấn mạnh mối sầu trong chiều dài thời gian và chiều rộng không gian, để thấy nó vừa chồng chất vừa mênh mông. Từ láy dằng dặc như mở nỗi sầu rộng ra lớp lớp, trùng trùng.
 
Sáng thức dậy nàng cũng làm công việc thường ngày rồi chăm chút trang điểm:
 
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
 
Hành vi gượng gạo, chiếu lệ vì nỗi sầu đè nặng hai tay, còn tâm trí dang miên man ở tận phương trời nào? Giọt lệ vắn dài trên khuôn mặt khô héo, bơ phờ đã diễn tả nỗi lòng đang thổn thức. Trái tim thúc đẩy nàng tìm về với kỉ vật xưa:
 
Sắc cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyển kinh đứt, phím loan ngại chùng. 
 
Nhìn cây đàn, nhớ đến ngày vui vầy bên nhau càng thêm buồn não nuột. Chiếc đàn để lâu nên dây đã chùng. Nàng cũng thờ ơ biếng đánh, mà gảy để ai nghe? Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn (Nguyễn Khuyến), nàng còn e sợ nếu dây đứt sẽ báo hiệu những điều không may.
 
Tác giả đã miêu tả ngoại cảnh, hành vi để cực tả nỗi lòng, diễn biến tâm trạng. Chờ đợi, cô đơn, buồn đau, nhung nhớ, thao thức, lo lắng đã bao trùm căn phòng quạnh hiu.
 
3. Tâm trạng nhớ thương (8 câu cuối)
 
Tâm tư chuyển biến ngày càng dồn nén, bế tắc, thì bỗng loé sáng một chút hi vọng. Tấm lòng nàng trải ra để gởi tâm tư nỗi nhớ theo ngọn gió về phương trời xa:
 
Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời...
 
Trong lời độc thoại này của nàng, không gian được vẽ ra chiều rộng bát ngát. Hình tượng thơ bay bỗng đã diễn tả tâm trạng chinh phụ có phần thư thái, nhẹ nhõm. Nhưng đó chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi. Tràn về bao phủ tâm tư, rồi bao trùm không gian rộng lớn là nỗi nhớ mênh mông: Nhớ chàng thăm thẳm... rồi Nhớ chàng đau đáu... Phép điệp cho thấy nỗi nhớ đang chồng chất giày vò, cắt cứa nhức nhối. Điệp ngữ liên hoàn cả đoạn thơ cũng góp vào diễn tả nhớ da diết. Hồn đoạn thơ dồn vào các từ láy: thăm thẳm, đằng đẵng, đau đáu, thiết tha... Nhưng sắc sảo nhất vẫn là từ thăm tliẳm, nó vừa chỉ độ cao vừa chỉ độ dài vừa chỉ độ sâu. Độ cao vô biên không tới cổng trời được so sánh với con đường xa dịu vợi nghìn trùng không thể đến với chàng. Độ sâu của cõi lòng nhớ thương không giới hạn. Nỗi nhớ ấy tiếp tục dâng cao vời vợi rồi toả ra muôn trùng.
 
Nỗi nhớ đau đáu như thắt lại. Giã từ khoảng trời trống vắng đong đầy nhớ thương, nàng quay lại với thực tế xung quanh. Giọng thơ chùng xuống não nùng:
 
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun. 
 
Tiếng dế rả rích, tỉ tê trong mưa phùn, cành cây ướt đẫm trĩu xuống dưới sương nước. Khung cảnh đầy hơi nước lạnh lẽo, âm u. Bức tâm cảnh sũng nước ấy đã cho thấy người chinh phụ mềm nhũn lòng vì bị dày vò bởi cái nhớ và đang ngập chìm trong biển nhớ thương. Đúng là: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. (Nguyễn Du)
 
Cách dùng từ láy, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, đoạn thơ đã diễn tả cạn kiệt mọi cung bậc, sắc thái của nỗi nhớ người thương.
 
III/ Kết bài
 
- Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ là một bức tranh tâm trạng sinh động, vừa khắc hoạ cảnh sống cô dơn vò võ, vừa thể hiện mọi cung bậc nỗi lòng sầu não, nhớ thương... của người chinh phụ héo hắt chờ chồng.
 
- Đồng cảm sâu sắc với nỗi đau của thân phận, quan tâm đến hạnh phúc lứa đôi của con người là biểu hiện tinh thần nhân đạo của đoạn trích.
 
- Cả tác phẩm Chinh phụ ngâm chỉ diễn tả một tâm trạng đứng yên là nỗi sầu, nhưng nhờ tài năng nghệ thuật mà tâm trạng ấy được thể hiện phong phú, nhiều chiều, đủ mọi trạng thái cung bậc. Trong đoạn trích này, tác giả dã tả hành động, mượn ngoại cảnh để tả tâm trạng. Những từ láy gợi hình, gợi cảm caò, âm điệu réo rắt của thể thơ song thất lục bát cũng góp phần lột tả tâm tư nhân vật trữ tình.
 
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP
 
Viết một đoạn văn ngắn để nói về nghệ thuật tả cảnh ngụ tình phổ biến trong thơ trung đại.
Nguồn: