Soạn bài Từ và cấu tạo của từ Tiếng Việt

Thứ năm , 21/09/2017, 21:09 GMT+7
Soạn bài Từ và cấu tạo của từ Tiếng Việt - Ngữ Văn lớp 6. I. KIẾN THỨC CƠ BẢN. 1/ Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu
Ví dụ: - Thần / dạy / dân / cách / trồng trọt / chăn nuôi / và / cách / ăn ở. (Con rồng cháu tiên)
 
Câu trên có 12 tiếng nhưng cho có 9 từ (được phân cách bằng dấu gạch chéo). 
 
- Hãy / lấy / gạo / làm bánh / mà / lễ / Tiên Vương.
 
Câu này có 9 tiếng nhưng chỉ có 7 từ.
 
2. Tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ.
 
Tiếng là đơn vị tạo nên từ, khi nói mỗi tiếng phát ra thành một âm, khi viết mỗi viết thành một chữ.
 
* Từ chỉ gồm một tiếng là từ đơn.
 
Ví dụ: Ở câu trên có:
 
- 6 từ đơn: thần, dạy, dân, cách, và, cách (mỗi từ gồm 1 tiếng).
 
* Từ gồm 2 hoặc nhiều tiếng là từ phức.
 
Ví dụ: Ở câu trên có:
 
- 3 từ phức: trồng trọt, chăn nuôi, ăn ở (mỗi từ gồm 2 tiếng).
 
II. TỪ ĐƠN VÀ TỪ PHỨC
 
Những từ phức được tạo ra bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa được gọi là từ ghép.
 
Những từ phức có quan hệ láy âm giữa các tiếng được gọi là từ láy.
 
Ví dụ: Trong 3 từ phức ở câu trên có:
 
- 2 từ ghép: chăn nuôi (ghép với nuôi có quan hệ về nghĩa) ăn ở (ghép với ở có quan hệ về nghĩa)
 
- 1 từ láy: trồng trọt (láy phụ âm đầu tr giữa hai tiếng)
 
III. LUYỆN TẬP
 
1. Đọc những câu sau và thực hiện nhiệm vụ nêu ở dưới:
 
Người Việt Nam ta - con cháu vua Hùng - khi nhắc đến nguồn gốc của mình, thường xưng là con Rồng cháu Tiên.
 
a. Từ nguồn gốc, con cháu thuộc kiểu cấu tạo nào?
 
- Từ nguồn gốc, con cháu là từ ghép gồm hai tiếng có nghĩa ghép lại với nhau.
 
b. Tìm các từ đồng nghĩa với từ nguồn gốc trong câu trên: Đó là các từ: gốc gác, gốc tích, cội nguồn, tổ tông...
 
 
c. Tìm thêm các từ ghép chỉ quan hệ thân thuộc: tổ tiền, ông hà, cha mẹ, chú hác, cậu mợ, vợ chồng...
 
2. Những quy tắc sắp xếp trong từ ghép chỉ quan hệ thân thuộc:
 
- Theo giới tính (nam nữ): ông hà, chú thím, cha mẹ, cậu mợ, vợ chồng...
 
- Theo em (bậc trên, bậc dưới): mẹ con, ông cha, cha anh, cha con, anh em, chị em, bác cháu, chú cháu, bà cháu...
 
- Theo quan hệ (gần xa): cô chú, dì dượng, chú hác...
 
3. Sắp xếp tên các loại bánh vào bảng theo ý nghĩa của những tiếng được ghép với bánh: 
 
Nêu cách chế biến: (bánh rán, (bánh) nướng, (bánh) bích quy
 
Nêu thêm chât liệu của bánh: (bánh) nếp, (bánh) tôm, (bánh) gai, (bánh) khúc, (bánh) khoai, (bánh) đậu xanh, (bánh) tẻ...
 
Nêu tính chất của bánh: (bánh) dẻo, (bánh) xốp...
 
Nêu hình dáng của bánh: (bánh) gối, (bánh) tai voi, (bánh) cuốn..
 
4. Có thề thay từ láy thút thít trong câu đã cho bằng các từ láy như: nức nở, sụt sịt, thảm thiết, rưng rức, tỉ ti... (Từ thút thít miêu tả tiếng khóc).
 
5. a. Tả tiếng cười: khanh khách, khúc khích, ha hả, sang sảng, hô hố, tủm tim, nắc nẻ, hì hì...
 
b. Tả tiếng nói: Ồm Ồm, oang oang, lè nhè, chát chúa, lanh lảnh, the thé, dịu dàng, nhỏ nhẹ, êm ái, thủ thỉ, thì thầm.
 
c. Tả dáng điệu: co ro, lom khom, lênh khênh, khúm núm, nghểnh ngang, hùng dũng, khép nép, nhanh nhẹn, nặng nề, chậm chạp, lừ đừ, loắt clioắt, bệ vệ, khệnh khạng,  thong dong, ung duỉig, thư thái, lòng khàng...
 
* TƯ LIỆU THAM KHẢO
 
• Tiếng
 
Trong tiêng Việt, có một loại đơn vị xưa nay ta thường quen gọi là “tiếng”, “tiếng một” hay là “chữ”, ví dụ: ăn, học, nhà, cửa, cao, rộng, và, nhưng, đã, sẽ, thiên, địa, tiểu, vô, bất,... Gọi loại đơn vị này là “tiếng”, “tiếng một” tức là căn cứ vào ngữ âm, gọi là “chữ” tức là căn cứ vào văn tự. Trong tiếng Việt, mỗi tiếng bao giờ cũng phát ra một hơi, nghe thành một tiếng, và có mang một thanh điệu nhất định. Trong chữ viết, từ chữ Nôm trước kia cho đến chữ Quốc ngữ hiện nay, mỗi tiếng bao giờ cũng viết rời ra thành một chữ. Đôi với người Việt, khi đứng trước một câu văn hay câu thơ, muốn xác định có bao nhiêu tiếng là một điều không có gì khó khăn lắm. Ví dụ đứng trước câu thơ:
 
Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng tháng to.
 
Chúng ta rất dễ dàng xác định ra ngay được 14 tiếng: có thể xác định được bằng cách phát âm (phát thành 14 hơi) hay bằng cách nghe (nghe thành 14 tiếng), có thế xác định được bằng cách đếm thanh điệu (6 thanh ngang + 4 thanh sắc + 1 thanh nặng + 1 thanh hỏi + 2 thanh huyền = 14 thanh).
 
(Theo Nguyễn Tài cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt NXB ĐHQG Hà NỘI)
 
• Từ ghép
 
Khác với các từ láy trong đó một hình vị (hình vị láy) được sản sinh từ hình vị kia (hình vị cơ sở), từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số’ hình vị (hay đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau.
 
Dưới đây là các loại từ ghép thực phân chia theo kiểu ngữ pháp của từng loại.
 
a) Từ ghép phân nghĩa: những từ ghép thực này chiếm đại bộ phận những từ ghép trước đây được gọi là “từ ghép chính phụ”. Vì cách gọi “từ ghép chính phụ” lệch hẳn về quan hệ cú pháp giữa các hành vi, cho nên gần đây có tác giả đổi thành cách gọi “từ ghép bố nghĩa”, “từ ghép phụ nghĩa”.
 
Từ ghép phân nghĩa là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị (hay đơn vị) theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hoạt động, tính chất) và một hình vị có tác dụng phân hóa loại nhỏ hơn cùng loại nhưng độc lập đổi với nhau, và độc lập với loại lớn. Các từ ghép phân nghĩa lập thành những hệ thông gồm một số từ thông nhất với nhau nhờ hình vị chỉ loại lớn.
 
b) Từ ghép hợp nghĩa là những từ ghép do hai hình vị tạo nên, trong đó không có hình vị nào là hình vị chỉ loại lớn, không có hình vị nào là hình vị phân nghĩa. Các từ ghép này không biểu thị những loại (sự vật, hiện tượng, tính chất,...) nhỏ hơn, trái lại chúng biểu thị những loại rộng hơn, lớn hơn, bao trùm hơn so với loại của từng hình vị tách riêng.
 
Hai hình vị kết hợp với nhau đế tạo nên một từ ghép hợp nghĩa phải cùng thuộc một phạm trù ngữ nghĩa (nghĩa là hoặc cùng chỉ sự vật, hoặc cùng chỉ hoạt động, hoặc cùng chỉ tính chất, hoặc cùng chỉ sô' lượng,...) và phải hoặc đồng nghĩa, hoặc trái nghĩa với nhau hoặc cùng chỉ những sự vật, hiện tượng... có quan hệ cùng cấp (tức cùng thuộc một loại) gần gũi nhau. Quan hệ giữa hai hình vị đó tương đương với quan hệ đẳng lập hay song song trong cú pháp như: bạn hữu, đêm ngày, áo quần, trông nom, trên dưới, thuôc thang, độc hại, buồn vui, tươi sáng, đợi chờ, đi đứng, lành mạnh,...
 
(Theo Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt,
Nguồn: