Soạn bài Vội Vàng của Xuân Diệu nâng cao

Thứ năm , 14/12/2017, 10:48 GMT+7

Soạn bài Vội Vàng của Xuân Diệu theo sgk lớp 11 nâng cao hay nhất

A - MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
 
- Cảm nhận được niềm khao khát sống mãnh liệt, sống hết mình và quan niệm về thời gian, về tuổi trẻ và hạnh phúc của Xuăn Diệu.
- Thấy được sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc mãnh liệt, dồi dào và mạch luận lí sâu sắc; những sáng tạo độc đáo về nghệ thuật của nhà thơ.
 
B - NỘI DUNG BÀI HỌC
 
"Thơ Xuân Diệu là nguồn sống dào dạt chưa từng thấy... Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết". Nhận định trên đây của nhà phê bình văn học Hoài Thanh rất đúng với hồn thơ Xuân Diệu, càng đúng hơn với bài thơ Vội vàng, một bài thơ hay in trong tập Thơ thơ, xuất bản năm 1938.
 
 
Bài tập - Đọc và tóm tắt phần Tiểu dần.
 
tóm tắt:
 
I. Xuân Diệu (1916 -1985)
- Cuộc đời, sự nghiệp văn học của Xuân Diệu:
 
+ Xuân Diệu (1916-1985) tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu, bút danh khác là Trảo Nha. Quê cha ở Hà Tĩnh, quê mẹ ở Bình Định, lớn lên ở Qui Nhơn. Xuân Diệu xa gia đình từ nhỏ và sống ở nhiều nơi. Mỗi miền đất có những ảnh hưởng nhất định đến hồn thơ ông.
 
+ Trước cách mạng, Xuân Diệu là một nhà thơ mới "mới nhất trong các nhà thơ mới" (Hoài Thanh). Sau cách mạng, Xuân Diệu nhanh chóng hòa nhập, gắn bó với đất nước, nhân dân và nền văn học dân tộc.
 
+ Xuân Diệu để lại một sự nghiệp văn học lớn. Ông là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào, mãnh liệt, bền bỉ.
 
+ Xuân Diệu từng là ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa I, II, III, là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hòa Dân chủ Đức. Xuân Diệu được nhà nước truy tặng giải thướng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
 
- Những nhận xét rút ra từ cuộc dời, sự nghiệp của Xuân Diệu:
 
+ Xuân Diệu là một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại, một nhà thơ mới "mới nhất trong các nhà thơ mới".
 
+ Thơ Xuân Diệu thể hiện một hồn thơ khát khao giao cảm với đời - cuộc đời hiểu theo nghĩa chân thật và trần thê nhất.
 
+ Hồn thơ Xuân Diệu rất nhạy cảm với thời gian. Xuân Diệu là nhà thơ của tuổi trẻ và tình yêu. Ong được mệnh danh là "ông Hoàng thơ tình" của Việt Nam.
 
2- Bài thơ Vội vàng
 
+ Xuất xứ: Vội vàng được in trong tập Thơ thơ, xuất bản năm 1938.
 
+ Vội vàng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho sự bùng nổ mãnh liệt của cái “tôi” trong thơ mới nói chung, thơ Xuân Diệu nói riêng, đồng thời in dấu khá đậm hổn thơ Xuân Diệu ("thiết tha, rạo rực, băn khoăn" - Hoài Thanh) và tiêu biểu cho sự cách tân táo bạo, độc đáo trong nghệ thuật thơ ông.
 
II- ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
 
Bài tập 1- Đọc bài thơ và cho biết: theo anh (chị), bài thơ có thể được chia thành mấy đoạn? Nêu ý chính của mỗi đoạn. Từ bố cục đó, hãy nêu nhận xét về cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
 
Gơi ý:
 
- Bài thơ có thể chia làm ba đoạn:
+ Đoạn 1-13 câu đầu: Tinh yêu cuộc sống say mê, tha thiết của nhà thơ.
+ Đoạn 2-16 câu tiếp: Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời.
+ Đoạn 3-9 câu còn lại: Khát vọng sống, khát vọng yêu cuồng nhiệt, hối hả.
 
- Bố cục trên cũng chính là mạch cảm xúc, tàm trạng của thi nhân. Đứng giữa cuộc đời trần thế, nhìn đời bằng cặp mắt "xanh non, biếc rờn", thấy cuộc sống là thiên đường trên mặt đất, nhà thơ sung sướng, ngây ngất tận hưởng nhưng với một tâm hồn nhạy cảm trước những bước đi của thời gian, nhà thơ nhận thấy "Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua" mà xuân qua nghĩa là tuổi trẻ, tình yêu cũng sẽ qua, sẽ mất. Vì thế, đang giữa giờ vui, thi nhân bỗng chợt buồn rồi băn khoăn, day dứt. Không thể níu giữ thời gian, không thể sống hai lần tuổi trẻ, thiên đường rồi cũng sẽ phải đến lúc trả lại nhân gian, chỉ còn một cách: "mau đi thôi" khi chưa quá muộn: "mùa chưa ngả chiều hôm". Thi nhân vội vàng, cuống quýt đến cuồng nhiệt thể hiện nỗi khát khao giao cảm với đời. Bài thơ kết lại ở giây phút đỉnh điểm của ước muốn cuồng nhiệt: "Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!".
 
Bài tập 2- Anh (chị) hãy cho biết vị trí, ý nghĩa, hình thức diễn đạt và tư tưởng độc đáo của 4 câu mở đầu.
 
Gơi ý: Bài thơ mở đầu bằng 4 câu thơ 5 chữ, kiểu càu khẳng định mạnh cùng với lối điệp từ ngữ, điệp cấu trúc câu thơ để khẳng định một ước muốn táo bạo, mãnh liệt: muốn ngự trị thiên nhiên, muốn đoạt quyền tạo hóa. sắc màu, hương thơm là hương sắc của thiên nhiên, rộng hơn là của cuộc đời. Thi nhân muốn "tắt nắng" muốn "buộc gió". Điều đó chính là ước muốn ngăn thời gian, chặn sự già nua, tàn tạ để giữ mãi hương sắc cho cuộc đời. Ý tưởng của Xuân Diệu thật mới lạ, độc đáo, in dấu ấn những cách tân nghệ thuật của thơ mới và dấu ấn cá tính sáng tạo của Xuân Diệu rất rõ rệt.
 
Ý tưởng có vẻ như "ngông cuồng" của thi nhân xuất phát từ một trái tim yêu cuộc sống đến tha thiết, say mê. Những động từ "tắt" (nắng), "buộc" (gió) ngỡ như vô lí nhưng lại "rất Xuân Diệu". Mọi giác quan của thi nhân như đang run lên để đón nhận mà hưởng thụ hương sắc trần gian.
 
Bốn câu thơ 5 chữ với lối diễn đạt riêng tưởng như không ăn nhập với bài thơ nhưng đọc hết bài, đật trong cái lôgic: muốn ôm, riết, thâu,... mới thấy đây chỉ là hành động mở đầu cho những ham muốn, vội vàng. Bốn câu thơ gói gọn cảm xúc và ý tưởng chủ đạo của cả bài thơ nên có giá trị như một lời đề từ.
 
Bài tập 3- Hình ảnh thiên nhiên quen thuộc được tác giả cảm nhận và diễn tả như thê nào? Hãy chí ra những nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc.
 
Gợi ý
 
- HS đọc kĩ đoạn văn bản, thống kê những hình ảnh thiên nhiên và nhận xét cách miêu tả của nhà thơ, từ đó nhận xét tâm trạng tình cảm của thi nhân trước bức tranh thiên nhiên, cuộc sống.
HS có thể thảo luận, tranh luận theo nhóm nhỏ, sau đó nhận xét và chốt lại những ý cơ bản:
Nhà thơ giãi bày cho cái ước muốn tưởng như "ngông cuồng" của mình bằng một bức tranh tràn đầy sinh lực, ngồn ngộn sức xuân, sắc xuân, hương xuân và tình xuân.
Bức tranh thién nhiên có đủ: ong, bướm, hoa lá, yến anh và cả ánh bình minh rực rỡ. Tất cả đang ở thời kì sung mãn nhất, sức sống căng đầy nhất: "tuần tháng mật" của ong bướm; "hoa của đồng nội xanh rì"; "lá của cành tơ phơ phất"; "khúc tình si" của yến anh; hàng mi chớp ánh bình minh của mặt trời,... Tất cả hiện hữu có đôi, có lứa, có tình như mời, như gọi, như xoắn xuýt.
 
Thi sĩ lãng mạn đã đón chào và chiêm ngưỡng cuộc sống, thiên nhiên bằng "cặp mắt xanh non" của tuổi trẻ. Cái nhìn vừa ngỡ ngàng, vừa đắm say, ngây ngất. Điệp khúc "này đây" cùng với phép liệt kê theo chiều tăng tiến, cách dùng từ láy (phơ phất), từ ghép (xanh rì) và những cụm từ "tuần tháng mật", "khúc tình si" hòa vào nhịp thơ gấp gáp, khẩn trương vừa diễn tả cảm giác sung sướng, ngây ngất vừa có gì như là sự hối thúc, giục giã khiến cho ai đó dù vô tình cũng không thể làm ngơ, không thể quay lưng. Cuộc sống là thiên đường trên mặt đất, hãy tận hưởng, tận hưởng và tận hưởng,...
 
Thật bất ngờ, nhà thơ như say khi thốt lên:
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
 
Câu thơ có ý nghĩa bao quát cả đoạn và có lối diễn đạt độc đáo, mới lạ. Với Xuân Diệu, một đời đẹp nhất là tuổi trẻ cũng như một năm đẹp nhất là mùa xuân và mùa xuân đẹp nhất là tháng giêng. Cái đẹp nằm ở sự bắt đầu, tinh khôi, mới mẻ, hồng hào, mơn mởn,... Xuân Diệu đã vật chất hóa một khái niệm thời gian (tháng giêng) bằng "cặp môi gần". Xuân Diệu còn truyền cảm giác cho người đọc bằng các tính từ "ngon", "gần". Câu thơ của Xuân Diệu không chỉ gợi hình thể mà còn gợi cả hương thơm và vị ngọt khiến người ta đắm say, ngây ngất.
 
Bài tập 4- Hãy phân tích tâm trạng băn khoăn day dứt của tác giả để thấy được những nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc.
 
Gơi ý:
- HS đọc kĩ đoạn thơ, suy nghĩ về những vấn đề trên (có thể thảo luận theo nhóm nhỏ).
 
Những nội dung cần đạt: Mạch thơ đang cuồn cuộn bỗng nhiên chùng hẳn xuống. Câu thơ gãy làm đôi bởi dấu chấm đặt ở giữa:
 
Tôi sung sướng. Nhưng vội vùng một nửa
 
Nhà thơ bỗng "hoài xuân" - nhớ xuân, tiếc xuân khi mùa xuân chỉ vừa mới bắt đầu. Cảm thức về thời gian luôn thường trực trong tâm hồn thi nhân. Xuân Diệu cảm nhận rất rõ những bước đi của thời gian trong hơi thở của đất trời và cùng với thời gian, những gì đẹp nhất của mùa xuân, của tuổi trẻ, của tình yêu rồi sẽ ra đi không trở lại.
Những từ "xuân", "tôi", "tuổi trẻ" cứ trở đi trở lại đan cài vào nhau trong hàng loạt những màu thuẫn: "đương tới"- "đương qua"; "còn non"- "sẽ già"; "lòng tôi rộng"- "lượng đời cứ chật"; "xuân vẫn tuần hoàn"- "tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại" tạo thành nỗi day dứt, niềm tiếc nuối không nguôi.
 
Các tiếng: "đương qua", "sẽ già", "hết", "mất", "không cho", "chẳng còn", "rớm vị chia phôi", "than thầm tiễn biệt", "phải bay đi", "bỗng dứt tiếng", "độ phai tàn",... như day cứa vào trái tim vốn rất nhạy cảm, yêu đời, khát khao giao cảm với đời nhưng cứ phải nghĩ, không thể không nghĩ đến cái hữu hạn của đời người; cứ phải lo, không thể không lo đến một ngày nào đó đời người vụt tắt như ngọn nến. Hơn ai hết, Xuân Diệu là người ý thức rất rõ một điều: tuổi trẻ một đi không trở lại.
 
Đoạn thơ sử dụng rất nhiều các phụ từ và từ quan hệ: "nghĩa là", "mà", "nhưng","làm chi","vẫn", "nếu", "chẳng", "chẳng còn", "nên",... Các từ này có giá trị biểu đạt "lí luận của trái tim". Trái tim tự đặt điều kiện, giả thiết, tự biện luận để rồi tự kết luận. Lời kết luận cuối cùng là lời than thở tưởng chừng như tuyệt vọng: Chằn ạ hao giờ, ôi! Ch á mị bao giờ nữa...
 
Xuân Diệu là thế: khao khát đến cháy bỏng, giao cảm đến nồng nàn nhưng luôn cảm thấy bơ vơ và có lúc hoảng sợ. Có điều nỗi tuyệt vọng của Xuân Diệu giống như nỗi buồn của giọt sương không được cháy hết mình dưới nắng mặt trời. Xuân Diệu không những không làm cho người ta tuyệt vọng mà bằng một con đường riêng, Xuân Diệu đã đốt lên tình yêu cuộc sống cho con người.
 
Bài tập 5- Anh (chị) hãy:
 
a. Nhận xét về hình ảnh thơ.
b. Nhận xét về ngôn từ trong đoạn thơ.
c. Nhận xét về nhịp điệu thơ.
d. Tìm hình ảnh mới mẻ, độc dáo nhất và nhận xét.
 
Gơi ý:
 
a. Hình ảnh thơ: sự sống mơn mởn, mây đưa, gió lượn, cánh bướm với tình yêu, cái hôn nhiều, non nước, cỏ, cây, mùi thơm, ánh sáng, thanh sắc, xuân hồng. Đó là những hình ảnh tươi mới, đầy sức sống.
 
b. Ngôn từ: ôm, riết, say, thâu, chuếnh choáng, đã đầy, no nê, cắn. Đó là những động từ và tính từ mạnh được dùng với mức độ tăng tiến dần.
 
c. Nhịp điệu thơ được tạo nên bởi những câu dài, ngắn xen kẽ với nhiều điệp từ có tác dụng tạo nhịp và ngắt nhịp nhanh, mạnh ("ta" ba lần; "và" ba lần; "cho" ba lần). Những yếu tố trên đã tạo nên nhịp thơ dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt.
 
d. Hình ảnh mới mẻ, độc đáo nhất: Bài thơ nói chung và đoạn thơ cuối nói riêng có nhiều hình ảnh mới mẻ, độc đáo nhưng hình ảnh có tính liên kết lôgic "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần" và "Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!" là hình ảnh độc đáo hơn cả.
 
Điệp khúc "ta muốn" trở lại với âm hưởng dồn dập hơn, khẩn thiết hơn trở thành cao trào của khát vọng sống vô cùng táo bạo, mãnh liệt. Cái tôi tham lam như muốn ngự trị, ôm choàng tất cả. Cùng với điệp khúc "ta muốn" là các động từ mạnh cứ tăng dần về mức độ: "ôm"- "riết"- "say"- "thâu"- "cắn". Trạng thái "vội vàng" ấy lại được bổi thêm bởi các tính từ tuyệt đối để lột tả đến tận cùng sự cuống quýt, vồ vập. Câu kết của bài thơ thật bất ngờ:
 
Hỡi xuân hồng, ta muôn cắn vào ngươi! 
 
Thật là một sự mê say đến cuồng điên. Kiểu giao cảm này chi Xuân Diệu mới có, một kiểu giao cảm khỏe mạnh, cường tráng của một trái tim căng đẩy sức sống và một tâm hồn ngập tràn tình yêu.
 
III- TỔNG KẾT
 
Cảu hỏi: Tổng hợp kiến thức, đưa ra nhận xét chung về giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ.
 
Gợi ý:
 
+ Giá trị nội dung: Quan niệm sống mới mé của tác giả là yêu cuộc sống trần thế xung quanh ta và tìm thấy trong cuộc sống đó biết bao điều hấp dẫn, đáng sống, biết tận hưởng những gì mà cuộc sống ban tặng. Từ đó, càng thêm yêu mùa xuân và tuổi trẻ, những gì đẹp nhất của cuộc sống con người. Đó là quan niệm sống rất "người", mang ý nghĩa tích cực và có giá trị nhân văn sâu sắc.
 
+ Giá trị nghệ thuật: Những cách tân của thơ mới được thể hiện một cách sáng tạo và táo bạo qua ngòi bút Xuân Diệu từ cảm hứng, ý tưởng thơ cho đến hình ảnh, nhịp điệu, ngôn từ,... Tất cả đều in dấu ấn phong cách Xuân Diệu.
 
IV- LUYỆN TẬP
 
Đề làm văn: Trong Nhà văn liiện dại, nhà phê bình, nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan đã viết: "Với những nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời, thấm thìa". Qua phân tích bài thơ Vội Vàng anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
 
Tham khảo: Dàn ý đại cương.
 
Mở bài: Giới thiệu Xuân Diệu, bài thơ Vội Vàng và nhận định của Vũ Ngọc Phan.
 
Thân bài:
 
I. Giải thích nhận định:
 
1- Nguồn cảm hứng mới trong thơ Xuân Diệu: yêu đương và tuổi xuân. Đây là hai nguồn cảm hứng nổi bật nhất, được biểu hiện nhiều nhất và biểu hiện bằng nhiều cung bậc nhất. Vì vậy, Xuân Diệu được mệnh danh là nhà thơ của tuổi trẻ và tình yêu (có thể lấy một vài dẫn chứng tiêu biểu để chứng minh).
 
2- Dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thìa: vui sướng, say mê, cuồng nhiệt và buồn, hoài nghi, cô đơn là hai nguồn cảm hứng nổi bật nhất trong thơ Xuân Diệu. Vì yêu đời nén say mê, cuồng nhiệt. Buồn, hoài nghi, cố đơn vì không thể nào đi đến được tận cùng của tình yêu. Đây là hai cách thể hiện tình yêu của Xuân Diệu trong thơ. Xuân Diệu "đã ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thìa".
 
II. Phân tích bài thơ Vội vàng để làm sáng tỏ nhận định
 
1- Khái quát chung về xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, tiêu đề và kết cấu mạch cảm xúc của bài thơ.
 
2- Phân tích chi tiết:
 
- Bốn câu đầu: ước muốn táo bạo thể hiện khát vọng tình yêu mãnh liệt.
- Chín câu tiếp: bức tranh mùa xuân biểu hiện tình yêu đắm đuối, mê say.
- Mười bảy câu tiếp: tình yêu được thể hiện qua ý thức về thời gian, tuối trẻ cùng những dự cảm về cái hữu hạn, sự chia lìa.
- Chín câu còn lại: Khát vọng tình yêu được thể hiện ở những vội vàng, vồ vập, cuống quýt. (Xem chi tiết ở phần bài học).
 
3- Đánh giá chung về bài thơ.
 
Kết bài
 
- Vội vàng là bài thơ tiêu biểu cho những cái "mới nhất trong các bài thơ mới" của Xuân Diệu, cũng là bài thơ tiêu biểu cho hai nguồn cảm hứng "yêu đương và tuổi xuân" của hồn thơ Xuân Diệu.
 
- Bài thơ đem đến cho mọi người, nhất là những người tuổi trẻ quan niệm nhân sinh tích cực, khỏe khoắn và nhân bản.
 
V- HƯỚNG DẪN HỌC THÊM
 
- Học thuộc lòng bài thơ.
- Tim đọc thêm thơ Xuân Diệu và những bài nghiên cứu thơ Xuân Diệu, ghi lại những ý kiến bình giảng một cách sâu sắc về bài thơ Vội vàng.
- Ôn tại lí thuyết văn nghị luận (lớp 10) và đọc trước bài Thao tác lập luận hác bỏ.
 
C - NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THAM KHẢO
 
1. Xuân Diệu (1916 - 1985) tên thật là Ngô Xuân Diệu, sinh ngày 02-02-1916. Cha là Ngô Xuân Huy - một ông đồ xứ Nghệ. Mẹ là Nguyễn Thị Hiệp - người con gái đất võ (Bình Định - Qui Nhơn). Dòng máu chảy trong con người Xuân Diệu là dòng máu được hoà huyết bởi chất cần cù, kiên nhẫn của người xứ Nghệ và chất phóng khoáng, rộng mở được làm nên bởi nắng gió, sóng biển “đồng ruộng lúa xanh ôm bóng tháp Chàm” của người Qui Nhơn.
 
Tuổi thơ của Xuân Diệu được tắm sóng Qui Nhơn quê mẹ. Hết bậc thành chung, Xuân Diệu từ biệt mẹ và quê hương ra Hà Nội rồi vào Huế học tiếp hết bậc tú tài và đi dạy học tư, làm viên chức ở Mĩ Tho nhưng chủ yếu hoạt động văn nghệ. Hà Nội đã mang đến cho Xuân Diệu chất cổ kính của một kinh đô nghìn năm văn hiến. Huế bồi đắp thêm chất thơ mộng, trầm tư vào cõi hồn vốn đã mộng, đã thơ của Xuân diệu. Nhưng thiếu quê hương, thiếu tình yêu của mẹ và người thân khiến nhà thơ đau đáu một niềm khát khao, khát sống, khát yêu, sống hết mình, yêu hết mình mà vẫn cảm thấy cô đơn.
 
Tuổi mười tám, đôi mươi, chàng trai đa tình với ánh mắt đắm đuối, si mê, tóc như mây vương trên đài trán cao đã đến với nàng thơ. Bắt đầu từ 1935, nổi lên ở 1937, khi Thơ thơ ra đời (1938) và Phấn thông vàng toả hương (1939) thì Xuân Diệu thực sự trở thành một ngôi sao sáng chói trên nền trời thơ Việt Nam. Cho đến lúc từ giã thơ, từ giã cõi đời (1985), Xuân Diệu đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ với nhiều thể loại khác nhau.
 
Con người Xuân Diệu dễ hoà nhập mặc dù cái tôi còn cao hơn cả toà Hi mã lạp sơn. Trong máu Xuân Diệu có sẵn huyết mạch truyền thống, gặp tư tưởng văn hoá phương Tây, Xuân Diệu không ngần ngại khoác lên mình “bộ y phục tối tân” của thơ Pháp. Đến với cách mạng, tham gia Mặt trận Việt Minh, Xuân Diệu hoà cái “tôi” riêng vào cái “ta” chung để sống cùng nhân dân, đất nước.
 
2. Hai khía cạnh tư tưởng đối lập mà thống nhất trong thơ Xuân Diệu.
 
"Khát khao giao cảm với đời” (Nguyễn Đăng Mạnh), "Tràn đầy cảm giác và luôn thức nhọn giác quan" (Nguyễn Quốc Túy), đồng thời "cô đơn, buồn" nhưng "khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết" (Hoài Thanh).
 
Thời đại thơ mới là thời đại chữ "tôi". Với Xuân Diệu, sự tồn tại của cái “tôi” được đẩy lên với ý nghĩa tuyệt đối. Thơ Xuân Diệu tràn ngập chữ "tôi". Cái tôi được khai thác, được biểu hiện ở nhiều góc độ, nhiều cấp độ khác nhau, có khi bé nhỏ như một cây kim nhưng lại nhọn sắc những khao khát và ngọt lịm những giao cảm 
(Tôi chỉ là một cây kim hé nhỏ/ Mà vạn vật là muôn đá num chúm), có khi đáng thương như "một con nai bị chiều đánh lưới", rất nhiều lúc mạnh mẽ quyết liệt (Tói, kẻ đưa răng hấu mặt trời/ Kẻ đựng trái tim trìu máu đất/ Hai tay chín móng hám vào đời/ Kẻ uống tình yêu dập cả môi), có lúc không còn đủ bình tĩnh để tự chủ (Tất cả tôi run rẩy tựa dây đàn). Nhân vật trữ tình trong thơ Xuân Diệu có thể xưng "anh”, "ta", "mình" thậm chí "em",... nhưng dẫu ẩn mình trong hoa lá cỏ cây hay đóng vai một người tình nhân, một khách giang hồ,... chung qui vẫn là cái tôi thi nhân với những nồng nàn, buồn đau rất riêng, rất thành thực.
 
Buồn, cô đơn là tâm bệnh chung của các nhà thơ mới. Nỗi buồn, sự cô đơn ở Xuân Diệu tập trung vào khía cạnh tư tưởng lớn nhất của đời ông: khát sống, khát yêu nhưng không bao giờ đi đến được tận cùng của tình yêu và cuộc sống. Khát vọng càng lớn, yêu đời, yêu người càng vồ vập, mãnh liệt thì thất vọng càng nhiều, nỗi buồn đau càng thấm thìa, ngay cả khi tình yêu đang độ nồng nàn, say đắm tưởng như tuyệt đích Xuân Diệu cũng lại rơi vào trạng thái buồn và cô đơn bởi chính cái thời khắc ấy, Xuân Diệu chợt nhận ra rằng: không bao giờ có được sự hòa nhập lí tưởng. Xuân Diệu gọi hai trái tim yêu là "hai vũ trụ chứa đầy bí mật" và khoảng cách của I1Ó là "vạn lí trường thành". Xuân Diệu luôn có dự cảm "Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt" nên luôn cảm thấy " hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ". Xuân Diệu sợ chết, sợ già, sợ im lặng và bóng tối bởi ở đó Xuân Diệu không có được tuổi trẻ và tình yêu. Xuân Diệu yêu say đắm nhưng ngay cả những lúc đắm say nhất vẫn cảm thấy bơ vơ nên đằng sau cái hôn bỏng cháy là tiếng thở dài, bên dưới những con sóng dam mê ào ạt là sự lặng im đếm tê người.
 
Vội vàng là bài thơ tiêu biểu đầy đủ nhất "chất Xuân Diệu". Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Đằng sau những tình cảm ấy là cả một quan niệm nhân sinh mới ít thấy trong thơ ca truyền thống. Thi phẩm được rút ra từ tập Thơ thơ xuất bản năm 1938, khi "ông hoàng thơ tình" đang ở độ tuổi hai mươi, cái tuổi đẹp nhất của đời người.
 
Nguồn: