Thuyết minh về Văn Miếu Quốc Tử Giám

Thứ ba , 20/03/2018, 10:24 GMT+7
Văn Miếu - Quốc Tử Giám là quần thể di tích tiêu biểu của thành phố Hà Nội nói riêng và miên Bắc nói chung. Hãy viết bài văn thuyết minh về quần thể di tích trên.
Thăng Long - Hà Nội là Thủ đô ngàn năm văn hiến, nơi quy tụ tinh hoa, khí phách dân tộc. Trải qua bao thăng trầm, nhiều giá trị văn hóa lịch sử lắng đọng dẩn tạo nên chất riêng của kinh đô hơn ngàn tuổi. Trong đó, phải kể đến biểu tượng của trí tuệ và truyền thống giáo dục nước nhà, đó là quần thể di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trường đại học đẩu tiên của nước ta.
 
Với vẻ đẹp cổ kính, quần thể di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám tọa lạc giữa Thủ đô tại đường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa như một chứng nhân lịch sử vô giá của thành phố Hà Nội. Quẩn thể di tích nằm giữa bốn phố chính gồm Nguyễn Thái Học, Tôn Đức Thắng, Văn Miếu và Quốc Tử Giám. Để có được quần thể di tích như hiện nay, Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã trải qua nhiều biến động cùng với Thủ đô ngàn năm văn hiến.
 
Về lịch sử, Văn Miếu được xây dựng từ năm 1070 với mục đích ban đẩu là thờ những vị Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho và là nơi dạy học cho Thái tử Lý Càn Đức. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho xây dựng Quốc Tử Giám cạnh Văn Miếu để dạy học cho hoàng tử và con em quý tộc, đại thẩn. Sang đời Trần, nơi đây thu nhận thêm những con em thường dân xuất sắc. Cùng với sự tham gia của thẩỵ giáo Chu Văn An, Văn Miếu Quốc Tử Giám ngày càng trở nên quỵ củ hơn. Sau khi mất, ông cũng được thờ tự tại Văn Miếu. Thời nhà Lê bắt đẩu từ vua Lê Thánh Tông cho dựng bia Tiến sĩ. Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử Giám chuyển vể Huế. Văn Miếu - Hà Nội được sửa sang lại một lần và mở rộng thêm ban thờ phụ mẫu của Khổng Tử. Tuy nhiên, đầu năm 1947, thực dân Pháp nã đạn làm sập căn nhà. Những công trình kiến trúc hiện tại của 
Văn Miếu - Quốc Tử Giám được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nển đất của Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
 
Quần thể di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám có cấu trúc rất rõ ràng thuận tiện cho du khách tham quan từ Văn Hổ, Vườn Giám đến khu nội tự Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Trước khi vào tham quan, du khách sẽ được ngắm cảnh Hồ Văn hay còn gọi là Hổ Giám, hồ Minh Đường, nằm ngay trước cổng vào. Hổ nước trong xanh tạo tâm thế tĩnh lặng cho người xem trước khi bước vào quần thể di tích. Giữa hồ có gò Minh Châu, dựng Phán Thủy đường - nơi văn nhân thời xưa bình thơ văn. Bên cạnh hồ là khu đất trống thường được tổ chức các sự kiện mà tiêu biểu là lễ hội Thư pháp đầu năm.
 
Đối diện với Hổ Văn là Văn Miếu môn - cổng tam quan dẫn vào quẩn thể di tích. Nhìn từ bên ngoài, Văn Miếu môn có ba cửa vào nhưng nếu bước qua cánh cổng và nhìn từ bên trong lại là năm cửa. Theo quan niệm thời xưa, cổng năm cửa dành cho thiên tử sử dụng, còn vương hầu chỉ làm cổng ba cửa, nhà thường dân làm một cửa. Với cách làm cổng như vậy, Văn Miếu môn thể hiện quan niệm rất rõ của triều đại phong kiến Việt Nam trong đế ngoài vương. Tuy nhận sắc phong xưng vương từ Trung Quốc nhưng bên trong, Đại Việt là đất nước độc lập và hoàn toàn bình đẳng với các quốc gia khác. Quan niệm này không chỉ chi phối kiến trúc cổng của Văn Miếu mà thể hiện ở cả đại nội kinh thành Huế.
 
Bước qua Văn Miếu môn là quần thể di tích khép kín trong khuôn viên hình chữ nhật chia thành các khu vực riêng được ngăn cách bằng các cổng như Đại Trung môn, Khuê Văn các, Đại Thành môn. Cả khuôn viên được bao kín bằng tường ngang cách biệt quần thể với bên ngoài. Chạy dọc bên tường ở phần khu Nhập đạo giữa Văn Miếu môn và Đại Trung môn, giữa Đại Trung môn và Khuê Văn các là con đường thảm cỏ, cây xanh tươi mát cùng hai hổ nước nhỏ hai bên. Không gian trở nên yên bình, quang đãng và dễ chịu khác hẳn với không khí náo nhiệt, ổn ào và bụi bặm của đường phố bên ngoài. 
 
Khuê Văn các là một nét kiến trúc đặc biệt trong quần thể di tích. Đây là một lẩu vuông tám mái, bao gồm bốn mái thượng và bốn mái hạ rất hài hòa và độc đáo. Tầng dưới là bốn trụ gạch vuông có chạm trổ hoa văn tinh vi và sắc sảo. Khuê Văn các vốn là nơi tụ họp bàn luận của văn nhân thời xưa. vẻ đẹp của Khuê Văn các được thể hiện ngay trong ý nghĩa cái tên của nó, căn lầu mang vẻ đẹp của ánh sao Khuê.
 
Ngay sau Khuê Văn các là Thiền'Quang tỉnh (giếng soi sáng bầu trời) và hai bên là tám mươi hai bia tiến sĩ. Giếng hình vuông, quanh bờ đều xây hàng lan can tới độ ngang lưng. Người xưa có quan niệm giếng hình vuông tượng trưng cho đất, cửa tròn gác Khuê Văn tượng trưng cho trời. Tinh hoa của cả trời và đất đều được tập trung ở trung tâm văn hóa giáo dục uy nghiêm Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Mỗi bên bờ giếng dựng bốn mươi mốt tấm bia tiến sĩ ghi nhận thành quả học tập của các tấm gương thời xưa. Người đẩu tiên được vinh danh là Nguyễn Trực - trạng nguyên đẩu tiên nhà Hậu Lê, cũng là Lưỡng quốc Trạng nguyên lỗi lạc của dân tộc. Những bia tiến sĩ được cõng trên lưng những chú rùa bởi rùa vốn được xem là biểu tượng cho vũ trụ - mai rùa tượng trưng cho trời, bụng rùa tượng trưng cho đất. Rùa cũng mang ý nghĩa của sự kiên trì, bền bỉ và sự trường tổn, vĩnh cửu. Những tấm bia tiến sĩ khắc tên những con người tài giỏi, tinh hoa của đất trời, với mong muốn vinh danh nhân tài, đê' cao học vấn, khích lệ người tài phấn đấu vươn lên. Tám mươi hai tấm bia tiến sĩ đã được Unessco công nhận là di sản tư liệu thế giới thuộc chương trình “Kí ức thế giới” vào năm 2010. Những tấm bia tiến sĩ không những trở thành biểu tượng cho con đường học vấn, cho nền giáo dục nước nhà mà còn trở thành niềm cảm hứng vươn đến đỉnh cao trí tuệ cho tất cả những bạn trẻ đến nơi đây.
 
Qua Đại Thành môn, nơi linh thiêng nhất của quẩn thể di tích mở ra là khu điện thờ các bậc tổ đạo Nho và danh nhân có công phát triển Văn Miếu.
 
Khu Thượng điện có chín gian, tường xây ba phía, phía trước có cửa bức bàn đóng kín năm gian giữa. Bốn gian đầu hồi có cửa chấn song cố định tạo cho nơi đây một không khí thâm nghiêm, u tịch khiến du khách càng thêm kính ngưỡng những vị danh nhân thời xưa. Nơi đây thờ Khổng Tử chính giữa, bên trái có hai ngai thờ Tăng Tử và Mạnh Tử, bên phải có hai ngai thờ Nhan Tử và Tử Tư. Tòa Đại Bái bên ngoài cũng xây chín gian có chức năng hành lễ trong những kì tế tự xuân thu. Chỉ gian chính giữa có hương án thờ còn các gian khác đều bỏ trống. Sau đó là đền Khải Thánh - nơi thờ phụ mẫu của Khổng Tử.
 
Phần cuối cùng của quần thể di tích là Tiền đường - Hậu đường. Tiền đường trưng bày về truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo. Đây cũng là nơi tổ chức các hội thảo khoa học và các sự kiện văn hoá nghệ thuật quan trọng của quốc gia. Hậu đường có kiến trúc hai tầng. Tầng dưới thờ Tư nghiệp Quốc Tử Giám (tương đương với Phó Hiệu trưởng) Chu Văn An. Đây là nơi trưng bày vê' Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long nói riêng và nển giáo dục Nho học Việt Nam nói chung. Đổng thời, nơi đây giới thiệu khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu - Quốc Tử Giám cùng những giá trị sâu sắc của truyền thống hiếu học, đê' cao nhân tài, thừa kế và phát huy di sản văn hoá dân tộc. Tầng hai là nơi tôn thờ các danh nhân có công xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục Nho học của Việt Nam. Đó là các vpVua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông.
 
Văn Miếu - Quốc Tử Giám có giá trị nhiều mặt, đây vừa là di tích văn hóa, lịch sử, giáo dục, vừa là thắng cảnh nổi tiếng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Vượt lên trên những giá trị vật chất, quẩn thể di tích này đã trở thành biểu tượng không thể thay thế cho tinh thẩn hiếu học và trí tuệ của dân tộc Việt Nam.
 
Tham quan trọn vẹn quần thể di tích, du khách được quay ngược thời gian trở vê' với sự phát triển của nển giáo dục Nho học hưng thịnh một thời của đất kinh kì. Văn Miếu - Quốc Tử Giám là cái nôi đào tạo nhiều nhân tài cho Nhà nước phong kiến Việt Nam, là nơi chủng kiến và ghi dấu thành công của biết bao danh nhân đất Việt. Nơi đây thực sự là một không gian học thuật, lịch sử để người người tìm vê' như một cách tri ân, nối tiếp truyền thống hiếu học của cha ông.
Nguồn: