ĐAU LÒNG LŨ LỤT MIỀN TRUNG
Mưa giăng mắc nỗi buồn nhân thế
Mờ chân mây dâu bể đón đưa
Ai làm bão tố gió mưa
Đời chan nước mắt, héo dưa kiếp người!
Ngày rát mặt, ngang trời mưa đổ
Đêm giá băng sương nhỏ lệ rơi
Mây đen phủ kín bầu trời
Sinh linh chết đứng giữa trời nước non!
Nghe gió thổi lòng cồn bão tố
Tiếng mưa rơi thác đổ ngàn xa
Lũ ơi, sấp ngửa ập oà
Nước ơi, trắng xoá lệ nhoà bóng quê!
Mưa gấp khúc đường về nẻo cũ
Bong bóng trôi theo lũ cuốn đê
Bàn tay kêu cứu – tái tê
Thò qua mái ngói bốn bề nước trôi!
Nhìn trẻ nhỏ màn trời chiếu nước
Các cụ già rét mướt tái xanh
Cuộc đời lúc rách lúc lành
Người mình chia sẻ đã thành bản năng!
Cùng một bọc, chung cành chung gốc
Nào cùng chia bão lốc gió sương
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương”…!
( Phạm Ngọc San trích Khoảng lặng xôn xao NXB hội nhà văn 2018)
I. Mở bài
Phạm Ngọc San là một cây bút giàu cảm xúc nhân văn, luôn hướng ngòi bút về những con người bình dị trong bão giông cuộc đời. Bài thơ “Đau lòng lũ lụt miền Trung” ra đời trong hoàn cảnh miền Trung oằn mình chống chọi với thiên tai, thể hiện niềm thương xót sâu sắc và tinh thần đoàn kết dân tộc. Ba dòng thơ cuối là lời kết đầy xúc động, kết tinh thông điệp nhân văn sâu sắc của toàn bài.
II. Thân bài
1. Khái quát nội dung toàn bài để dẫn vào đoạn thơ cuối
Toàn bài là tiếng lòng đau đáu của nhà thơ trước cảnh lũ lụt tang thương ở miền Trung – nơi “nước ơi, trắng xoá lệ nhoà bóng quê”. Bên cạnh nỗi đau, tác giả còn ngợi ca tinh thần nhân ái, chia sẻ của con người Việt Nam trong hoạn nạn, đó chính là tinh thần dân tộc bất diệt được thể hiện rõ trong ba dòng thơ cuối.
2. Phân tích ba dòng thơ cuối
a. “Cùng một bọc, chung cành chung gốc”
Cụm từ “cùng một bọc” gợi nhắc điển tích “con Rồng cháu Tiên” – biểu tượng của nguồn gốc chung, tình ruột thịt của dân tộc Việt. Biện pháp điệp ngữ “chung cành chung gốc” nhấn mạnh sự gắn bó keo sơn, máu thịt giữa những con người trong cùng một đất nước. Hình ảnh “cành”, “gốc” còn gợi cảm giác về cây đời dân tộc, nơi mọi người cùng sinh trưởng, cùng chịu chung gió bão, càng khẳng định tình nghĩa đồng bào thắm thiết.
b. “Nào cùng chia bão lốc gió sương”
Lời thơ mang âm hưởng của lời kêu gọi tha thiết, chan chứa tình người: hãy cùng nhau sẻ chia, cùng nhau vượt qua thiên tai. Các từ “bão lốc”, “gió sương” vừa gợi hiện thực khắc nghiệt, vừa tượng trưng cho những thử thách, mất mát trong cuộc sống mà con người cần nương tựa nhau để vượt qua. Giọng thơ từ trầm buồn chuyển sang mạnh mẽ, đầy xúc động thể hiện niềm tin vào sức mạnh của tình người, của sự đoàn kết.
c. “‘Nhiễu điều phủ lấy giá gương’…”
Câu tục ngữ được đưa vào như một điểm nhấn truyền thống, khép lại bài thơ bằng giá trị đạo lý bền vững của dân tộc. Nghĩa đen: tấm vải nhiễu điều che chở cho giá gương; nghĩa bóng: người cùng một nước, một dân tộc phải biết thương yêu, giúp đỡ nhau trong hoạn nạn. Việc đặt câu tục ngữ trong dấu ngoặc kép cho thấy tác giả trân trọng, tôn vinh lời dạy của cha ông, đồng thời muốn nhắc nhở thế hệ hôm nay tiếp nối truyền thống tương thân tương ái.
3. Nghệ thuật thể hiện
– Hình thức thơ độc đáo: Biến thể của thể song thất lục bát, kết cấu chỉ gồm một câu thất và một cặp lục bát – vừa ngắn gọn, vừa cô đọng ý thơ.
– Biện pháp tu từ: điệp ngữ (“chung cành chung gốc”), ẩn dụ (“bọc”, “cành”, “gốc”), sử dụng tục ngữ dân gian (“Nhiễu điều phủ lấy giá gương”).
– Ngôn ngữ giản dị mà sâu sắc, mang đậm tính dân tộc và âm hưởng ca dao.
– Giọng điệu chân thành, tha thiết, thể hiện trọn vẹn cảm xúc thương người, yêu đời của nhà thơ.
III. Kết bài
Ba dòng thơ cuối như một bản kết tinh của tinh thần nhân ái Việt Nam: từ nỗi đau trước cảnh lũ lụt đến lời kêu gọi đồng lòng sẻ chia. Qua đó, Phạm Ngọc San không chỉ bày tỏ tình thương với đồng bào miền Trung mà còn khơi dậy giá trị truyền thống “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân” – một sợi dây bền chặt nối kết tâm hồn người Việt qua bao thế hệ.
Bài văn 600 chữ
Phạm Ngọc San là một nhà thơ giàu lòng nhân ái, luôn hướng ngòi bút về con người Việt Nam trong những hoàn cảnh gian khổ, nhọc nhằn mà vẫn sáng lên tinh thần sẻ chia, đùm bọc. Bài thơ “Đau lòng lũ lụt miền Trung” ra đời trong những ngày miền Trung chìm trong bão lũ tang thương. Xuyên suốt bài thơ là nỗi đau đáu của người viết trước cảnh nước dâng, nhà trôi, sinh linh cơ cực. Và ở ba dòng thơ cuối, cảm xúc ấy được kết tinh thành lời nhắn nhủ tha thiết, mang đậm truyền thống nhân nghĩa của dân tộc:
Cùng một bọc, chung cành chung gốc
Nào cùng chia bão lốc gió sương
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương”…
Mở đầu đoạn thơ, cụm từ “cùng một bọc” gợi nhớ đến huyền thoại con Rồng cháu Tiên – biểu tượng thiêng liêng của cội nguồn dân tộc. Câu thơ như một lời khẳng định giản dị mà sâu sắc rằng tất cả chúng ta, dù ở miền xuôi hay miền ngược, đều là anh em ruột thịt sinh ra từ cùng một bọc trăm trứng. Biện pháp điệp ngữ “chung cành chung gốc” càng nhấn mạnh sự gắn bó máu thịt, không thể tách rời của những con người Việt Nam. Hình ảnh “cành”, “gốc” gợi liên tưởng đến một cây đời dân tộc – nơi mỗi con người là một chiếc lá, cùng sinh trưởng, cùng chịu gió bão, cùng che chở lẫn nhau.
Đến câu thơ thứ hai giọng thơ vang lên như một lời kêu gọi chân thành, xúc động. Tác giả không chỉ bày tỏ niềm thương cảm trước nỗi đau miền Trung mà còn khơi dậy tinh thần tương thân tương ái, mời gọi mọi người “cùng chia”, cùng san sẻ những mất mát do thiên tai gây ra. Hình ảnh “bão lốc”, “gió sương” không chỉ nói về thiên nhiên khắc nghiệt mà còn ẩn dụ cho những thử thách, gian nan trong cuộc sống. Trong những cơn hoạn nạn ấy, con người càng cần nắm tay nhau để cùng đứng vững.
Dòng thơ cuối cùng khép lại bài thơ bằng một câu tục ngữ quen thuộc, như tiếng vọng của truyền thống ngàn đời. Câu nói ấy chứa đựng đạo lý sâu sắc: người cùng một nước phải biết yêu thương, đùm bọc, che chở cho nhau. Việc tác giả đặt câu tục ngữ trong dấu ngoặc kép cho thấy thái độ trân trọng, nâng niu lời dạy của cha ông, đồng thời khẳng định giá trị bền vững của đạo lý “thương người như thể thương thân” giữa dòng đời hiện đại.
Về nghệ thuật, đoạn thơ sử dụng thể song thất lục bát biến thể, chỉ gồm một câu thất và một cặp lục bát, tạo nên kết cấu ngắn gọn nhưng cô đọng, dồn nén cảm xúc. Các biện pháp tu từ như điệp ngữ, ẩn dụ, sử dụng tục ngữ dân gian đã góp phần tăng sức gợi hình, gợi cảm, làm nổi bật thông điệp nhân văn.
Ba dòng thơ cuối không chỉ khép lại một bài thơ giàu xúc cảm mà còn mở ra một thông điệp sâu xa về tinh thần dân tộc: trong bất cứ hoàn cảnh nào, người Việt Nam vẫn luôn biết yêu thương, chia sẻ và hướng về nhau. Từ nỗi đau thiên tai, Phạm Ngọc San đã khơi dậy vẻ đẹp muôn đời của tình người – thứ sức mạnh giúp dân tộc ta đứng vững trước bao gian khổ, bão giông.
Đoạn văn 200 chữ
Giữa những ngày mưa lũ triền miên, khi miền Trung oằn mình trong biển nước, tiếng thơ Phạm Ngọc San vang lên như một lời sẻ chia, như vòng tay ấm áp ôm lấy đồng bào ruột thịt. Ba dòng thơ cuối trong bài “Đau lòng lũ lụt miền Trung” kết lại bằng một thông điệp thấm đẫm tình người:
Cùng một bọc, chung cành chung gốc
Nào cùng chia bão lốc gió sương
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương”…
Cụm từ “cùng một bọc”, “chung cành chung gốc” gợi về truyền thuyết con Rồng cháu Tiên, khẳng định tình nghĩa máu thịt thiêng liêng của dân tộc Việt. Lời thơ “Nào cùng chia bão lốc gió sương” là tiếng gọi tha thiết, mời gọi mỗi người cùng chung tay san sẻ nỗi đau nơi khúc ruột miền Trung. Và khi câu tục ngữ “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” vang lên, người đọc như được nhắc nhớ về đạo lý nghìn đời: thương người như thể thương thân. Chỉ ba dòng ngắn gọn mà chứa chan nghĩa tình, để lại dư âm ấm áp về sức mạnh đoàn kết, sức mạnh đã làm nên hồn cốt Việt Nam qua bao mùa bão giông.






















![[Mở bài - Kết bài] Kết cấu đầu cuối tương ứng áp dụng văn học sử vào NLVH](https://hocvan.edu.vn/wp-content/uploads/2024/06/mo-bai-ket-bai-ket-cau-dau-cuoi-tuong-ung-ap-dung-van-hoc-su-vao-nlvh-120x86.jpg)


Thảo luận về bài viết này