Đề: Nhà văn Nga, Đô-xtô-ep-xki cho rằng: Tài nghệ vĩ đại nhất của nhà văn là ở chỗ biết xóa bỏ.
Nhà thơ Ấn Độ, Ta-go lại khẳng định: Có thể vượt qua thế giới lớn lao của loài người không phải bằng cách cách xóa bỏ mình mà bằng cách mở rộng bản sắc của chính mình.
Bằng hiểu biết và trải nghiệm văn học của bản thân, anh chị hãy bình luận những ý kiến trên.
Bài làm
Sự vận hành của vũ trụ và sự chảy trôi miên viễn của cuộc đời có khi nào ngừng, câu nói “hết thảy rồi sẽ qua đi” của vua David ứng nghiệm với vạn vật trên đời. Chính vì lẽ ấy mà người ta đặt ra câu hỏi cho sự tồn tại đích thực của văn học và của chính người nghệ sĩ. Phải chăng là phải biết “phủ định” nói như văn hào Nga Dostoevsky “Tài nghệ vĩ đại nhất của nhà văn là ở chỗ biết xóa bỏ” nhưng cũng là “làm giàu” mình như nhà thơ Ấn Độ Tagore đã khẳng định: “Có thể vượt qua thế giới lớn lao của loài người không phải bằng cách xóa bỏ mình mà bằng cách mở rộng bản sắc của chính mình”?
Đi thẳng vào vấn đề, văn hào vĩ đại nước Nga Dostoevsky đã khẳng định tài năng của một người nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo là phải biết “xóa bỏ” – chỉnh sửa, thay thế những gì là không phù hợp, phủ định những gì cũ kĩ, bất ổn để tôn tạo nên ý nghĩa tác phẩm và cho tầm vóc của chính mình. “Tài nghệ vĩ đại nhất” khi ấy được chứng tỏ ở sự thâu nhận những gì là phù hợp, không thừa thãi. Còn nhà thơ Ấn Độ Tagore dường như lại đi theo một quan điểm khác: để vượt qua “thế giới lớn lao của loài người”, kinh luân qua mọi bờ cõi và giới hạn, vươn đến đỉnh cao không phải bằng cách “xóa bỏ mình” – phủ định chính mình mà phải làm giàu, làm phong phú, “mở rộng bản sắc”, khẳng định cái riêng biệt, độc đáo, cá tính sáng tạo của người cầm bút. Một bên bớt đi những gì không phù hợp để tạo nên tính toàn vẹn, một bên thêm vào những gì mới mẻ, độc đáo để tạo nên giá trị thẩm mỹ. Hai ý kiến, hai quan điểm không hề mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau: người nghệ sĩ chân chính khi bước lên văn đàn vừa phải biết phủ định để tôn tạo, vừa phải biết khẳng định để ghi dấu ấn. Khi ấy mới đủ khả năng vượt qua sự băng hoại của thời gian!
Vì sao Tagore lại khẳng định “tài nghệ vĩ đại nhất của nhà văn là ở chỗ biết xoá bỏ?”. “Xóa bỏ” trước hết là một khâu trong quá trình sáng tác – giai đoạn chỉnh sửa, vun đắp để hoàn thiện tác phẩm. Tác phẩm nghệ thuật trước khi cập bến tâm hồn bạn đọc, trở thành đối tượng cho sự tiếp nhận bao giờ cũng trải qua sự tiếp nhận của chính người nghệ sĩ bởi nói như J.P.Satre “Nhà văn cũng là một độc giả, trước khi trở thành nhà văn thì chính anh cũng là một độc giả”. “Xóa bỏ” những gì là thừa thãi, không cần thiết để đưa tác phẩm trở thành một thể hoàn chỉnh trong sự tiếp nhận trọn vẹn của người đọc. “Xóa bỏ” khi ấy là người viết thể hiện sự dụng công của mình. Giả Đảo thay “thôi” bằng “xao”, Tản Đà thi sĩ thế chỗ “tuôn” bằng “khô” trong câu thơ “Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày”, nhà thơ Huy Cận vì để diễn tả trọn vẹn nỗi cô đơn mà dồn tụ cảm xúc trong câu thơ “Củi một cành khô lạc mấy dòng” được chỉnh sửa tới bảy lần. Sự dụng công ấy của Huy Cận đã lột tả hết cái cảm thức đơn côi, lẻ loi, lạc lõng, nỗi hoang hoải của kiếp người trôi nổi vô định trên dòng trường giang. Ấy là biết “xóa bỏ”, để tạo sinh ý nghĩa, để khẳng định công phu, sự lựa chọn của trí tuệ. Tác phẩm khi ấy mới thực sự trở thành một chỉnh thể. Nếu không “xóa bỏ”, ấy phải chăng là để chữ nghĩa rơi vụn mà xóa tan đi công sức người cầm bút, không có khả năng tác động và cũng chẳng khơi gợi điều gì? Sự “xóa bỏ” ấy là kết quả của một quá trình nung nấu lâu dài, sự vụt hiện của những ý niệm trực chờ được giải thoát. Tác phẩm được nâng tầm ý nghĩa, tạo hứng thú cho bạn đọc “đi tìm vàng” trên trang giấy. Sau cái quá trình rất “khổ đau và nặng nhọc đèo bòng” (Nguyễn Tuân) ấy, quả thực người nghệ sĩ mới có thể an lòng mà bắt tay vào các công việc cần thiết.
“Xóa bỏ” không chỉ là một khâu trong quá trình sáng tạo mà còn là sự dồn nén, tích tụ của bản lĩnh dám phủ định chính mình, vượt qua chính mình để khai sinh ra một “cái tôi” tác giả mới nói như nhà văn Milan Kundera “Viết là giết mình nhưng không phải bằng cái chết”. Sự thích nghi với đời sống văn học luôn đổi thay và chính đời sống xã hội cũng luôn biến động buộc nhà văn phải biết phủ định những gì đã cũ kĩ, không phù hợp của bản thân để bước tiếp trên hành trình sáng tạo gian truân này. Không chấp nhận những tầm thường, tủn mủn, văn học là lĩnh vực của sự sáng tạo vì thế nó đòi hỏi ở người nghệ sĩ một cái gì đó rất mới, rất riêng. Khi ấy cần biết “xóa bỏ”. “Xóa bỏ” là sống sâu với chính mình, khám phá bản ngã để lên “kế hoạch” cho một cuộc tái tạo bản thân. Nếu trước Cách mạng, Chế Lan Viên tìm về với tháp Chàm đổ nát, về với quá vãng xa xôi, với vương quốc Chiêm Thành đã lùi về một thời dĩ vãng với lời tuyên bố:
“Tôi có chờ đâu có đợi đâu
Đem chỉ xuân đến gợi thêm sầu
Với tôi tất cả đều vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”
để rồi “Điêu tàn” xuất hiện như “một niềm kinh dị” giữa làng thơ Việt Nam lúc bấy giờ, là lời tâm sự của cá nhân tiếc thương quá khứ thì đến thời kì chống Mỹ, âm hưởng hào hùng của thời đại đã tỏa bóng hồn thơ ông, rộng mở tới khắp mọi miền Tổ quốc với một niềm giản dị chân chất. Chế Lan Viên đi từ “thung lũng đau thương” ra “cánh đồng vui” khi nhận được câu trả lời cho nỗi niềm ngóng vọng một điều gì đến với dân tộc – là Đảng, là Bác, là Cách mạng:
“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa”
Để rồi khi chiến tranh qua đi, đất nước bước vào thời kì hòa bình với công cuộc đổi mới, thi sĩ Chế Lan Viên ngày nào lại trở về với những triết lí suy tư về đời, về thơ và về chính mình. Đào sâu vào bản thế để tìm kiếm, thức nhận về lẽ đời:
“Hoa Lư ở đâu?
Hoa lau ở đâu?
Hồn lau ở đâu?
Hồn ta ở đâu?””
(Cờ lau Đinh Bộ Lĩnh)
Ấy chẳng phải là thi nhân đã biết “xóa bỏ” để làm mới mình, để thiết lập một hệ thống tư tưởng mới, quan niệm mới trong sứ mệnh phụng sự cuộc đời, phục sinh con người?
“Xóa bỏ” cao hơn còn là sự “bãi bỏ” những quan điểm đã không còn phù hợp để tái tạo một khởi đầu mới, thúc đẩy sự phát triển và vận động không ngừng của đời sống văn học. Từ góc độ triết học mà nói, một cái mới sinh ra khi và chỉ khi có sự thay thế, phủ định cãi cũ. Soi chiếu vào văn học để thấy rằng bản thân văn học là một quá trình luôn diễn ra sự phủ định liên tục trong logic nội tại của nó. Nếu xưa kia văn học trung đại nhìn con người trong mối quan hệ “thiên địa nhân tam tài hợp nhất” thì thơ Mới lại nhìn con người là chủ thể để định giá thẩm mỹ trong mối quan hệ với chính nó. Văn học Cách mạng lại khai thác con người từ góc độ của cái ta chung, thấy con người là một mắt xích trong đại thế, hòa nhập với cộng đồng. Sự thay đổi của quan niệm nghệ thuật về con người ấy là một minh chứng rõ nét cho sự “xóa bỏ” trong văn học.
“Xóa bỏ” cốt yếu là để sản sinh ra cái mới có giá trị. Thơ Mới đạp đổ tường thành thơ cũ, Thế Lữ cắm lá cờ chiến thắng, cái tôi thi sĩ được giải phóng khỏi gông cùm kìm kẹp của nền văn học phi ngã, ưa điển cố. Các thi sĩ thơ Mới với sự “tiếp sức” của thơ ca phương Tây đã làm nên một cuộc cách mạng trong thi ca. Văn học sau 1975 “xóa bỏ” quan niệm nhìn con người một cách nguyên phiến, giản đơn của văn học Cách mạng để thấy con người trong logic đa trị “cuộc đời đa sự, con người đa đoan”. Nguyễn Minh Châu trở thành “người mở đường tài hoa và tinh anh” khi sẵn sàng đọc “lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” với ý thức nhìn con người từ góc độ thế sự đời tư, bản chất con người là “rồng, phượng, rắn, rết, thiên thần, ác quỷ” và Lê Lựu cũng ý thức được rằng “không thể viết như trước được nữa”. Văn học Việt Nam vì thế bước sang chặng đường mới khi đặt ra những vấn đề có tính thời sự với con người. “Xóa bỏ” khi ấy là cần thiết cho quá trình không đứt đoạn. Và chính những người mở đường tài năng ấy đã trở thành một dấu mốc khi can đảm “xóa bỏ” bằng sự lựa chọn của trí tuệ!
Nhưng chỉ “xóa bỏ” không thôi thì liệu có làm nên người nghệ sĩ chân chính, có tầm vóc? Có lẽ vì thế nên Tagore mới khẳng định “có thể vượt qua thế giới lớn lao của loài người không phải bằng cách xóa bỏ mình mà bằng cách mở rộng bản sắc của mình”. Văn nhân bao đời ai chẳng từng ôm những mộng đẹp có thể viết nên những tác phẩm “cho cả loài người” (Nam Cao). Nhưng không phải vì mộng đẹp mà tìm cách “phủ định” chính mình để xây dựng một con người mới mà là “mở rộng bản sắc” – làm giàu mình, làm phong phú mình để “thắp một ngọn đèn riêng” (Chu Văn Sơn), khẳng định dấu ấn của phong cách độc đáo, cá tính không lặp lại. “Mở rộng bản sắc” khi ấy là đem đến một cái nhìn mới, một cách cảm mới, cách thể hiện mới, làm phong phú cho đời sống văn học. Xưa kia nhà lí luận Viên Mai cũng từng nói: “Làm người thì không nên có cái tôi nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi” cũng là vì vậy! Vừa là nhu cầu tự thân muốn khẳng định dấu ấn, vừa là yêu cầu của văn học, yêu cầu của thời đại đối với người nghệ sĩ. Nếu Xuân Diệu đến với chúng ta trong vai trò “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” khi đem đến cách nhìn cuộc đời, con người qua lăng kính của tuổi trẻ, tình yêu:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si””
trong khát vọng được giao cảm với cuộc đời, trong niềm luyến ái tình tự:
“Hoa nghiêng xuống có trong khi có
Nghiêng xuống làn rêu một tối đầy”
mà chủ động kêu gọi hưởng thụ, sống tận hiến tận hưởng: “Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn” cũng bởi thi sĩ nhạy cảm trước sự chảy trôi của thời gian quá: “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua”, thấy tháng năm đều “rớm vị chia phôi”, quả là một cái tôi độc đáo với mì cảm là cái đẹp thì Hàn Mặc Tử lại dẫn ta đi tới thế giới “hồn điên máu cuồng” của nhà thơ “lạ nhất trong các nhà thơ mới””:
“Trời hỡi bao giờ tôi chết đi
Bao giờ tôi hết được yêu vì
Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Và khối lòng tôi cứng tợ si””
trong sự tuyệt vọng của cái tôi mang mặc cảm chia lìa.
“Mở rộng bản sắc” của chính mình đâu phải chỉ là sự khẳng định cho cái tôi văn nhân được tỏa sáng mà đặt trong quy luật của dòng chảy văn học, “mở rộng bản sắc” còn để đảm bảo cho sự kế thừa – cách tân diễn ra liên tục. Sự vun đắp cho cái tôi trở nên giàu có, phong phú mới giúp nghệ sĩ đứng vững trên văn đàn. Nguyễn Du học ở dân gian những thành ngữ, ca dao:
“Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”
Nguyễn Bính học từ cố nhân thể thơ lục bát dân tộc với lối nói ý nhị, kín đáo:
“Nắng mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”
Tố Hữu cũng mượn thể thơ ấy để nói lên tình yêu với quê hương, xứ sở trong những vần thơ “Việt Bắc” rất đỗi chân tình:
“Mình về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người””
“Mở rộng bản sắc” khi ấy còn là bản lĩnh dám vượt qua những cái đã quá quen, quá cũ mà dấn thân cho hành trình cách tân và sáng tạo, vượt qua cái bóng của tiền nhân để tiếp thêm sinh lực cho văn học. Mà nói như Boghet, nhà văn Argentina “Hời tuổi trẻ hãy giết chết Boghet” và Garcia Lorca đã tuyên bố “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” là lời thúc giục cho văn nhân hậu thế phải dứt khỏi những con đường đã có dấu chân người mà khai sinh ra những con đường mới.
Garcia Marquez với chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, Franz Kafka xây dựng kết cấu phi lý, Lỗ Tấn sử dụng thủ pháp nhại lịch sử, Mạc Ngôn với chủ nghĩa tân lịch sử, Lê Đạt và thơ tạo sinh, ấy phải chăng là những nghệ sĩ chân chính đã dám lựa chọn cho mình con đường riêng mà chính họ là những dấu mốc cho thế hệ sau tiếp tục noi theo và nuôi dưỡng khát vọng vươn lên mọi bờ cõi và giới hạn.
Liệu có thể “vượt qua thế giới lớn lao của loài người” mà chính những văn nhân không chịu mở hồn mình ra, tham gia vào dòng chảy chung của văn học thế giới? Giao lưu và phát triển mới có thể “mở rộng bản sắc” của chính mình. Nguyễn Minh Châu tiếp thu từ Franz Kafka motif “hóa thân” trong “Phiên chợ Giát”, Phạm Thị Hoài sử dụng yếu tố huyền ảo học hỏi từ Garcia Marquez trong “Thiên sứ”, Nguyễn Huy Thiệp tiếp bước Lỗ Tấn với thủ pháp nhại lịch sử. Chỉ có giao lưu và học hỏi, nghệ sĩ mới nâng tầm mình lên mà đem lại giá trị văn học cho dân tộc và nhân loại!
“Xóa bỏ” và “mở rộng bản sắc” có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời. “Xóa bỏ” để “mở rộng”, “mở rộng” rồi lại “xóa bỏ”, hai điều ấy là phẩm chất của một nhà văn thực thụ. Giá trị tác phẩm từ đó mà được tôn tạo, khẳng định, ghi dấu trong lòng bạn đọc. Người nghệ sĩ trên hành trình sáng tạo phải ý thức cao độ về hai phẩm chất ấy và người đọc khi đến với tác phẩm cũng phải biết nâng tầm mình lên để có thể đón nhận trọn vẹn.
Ngẫm lại để thấy rằng, còn biết bao phẩm chất để làm nên một nghệ sĩ vĩ đại. Trong thời đại của số hóa, công nghệ thông tin, nhà văn càng phải biết trau dồi năng lực mà thực thi sứ mệnh của mình.

























Thảo luận về bài viết này