Có lần, nhà văn Nguyên Ngọc đã khẳng định: “Đã là văn chương thì phải đẹp.” Lời nhận định ấy vang lên như một tuyên ngôn nghệ thuật, đặt cái đẹp vào vị trí trung tâm của văn chương. Quả thật, nếu thiếu đi cái đẹp, văn chương sẽ chỉ còn là những dòng chữ khô cứng, không chạm tới tâm hồn người đọc. Và khi soi chiếu vào những tác phẩm thơ ca của Nguyễn Bính – thi sĩ của làng quê Việt Nam, ta càng thấm thía giá trị ấy. Bài thơ Mùa xuân xanh với vẻ đẹp trong sáng, bình dị mà giàu sức gợi chính là minh chứng rõ ràng nhất cho chân lý nghệ thuật mà Nguyên Ngọc đã từng nhấn mạnh.
Văn chương, tự bản chất, là một hình thái nghệ thuật. Đó không chỉ là sự phản ánh hiện thực cuộc sống mà còn là sự thăng hoa của tâm hồn con người trước những vẻ đẹp của đời sống. Văn chương giúp con người giãi bày tình cảm, suy tư, khát vọng và cũng để lại dấu ấn sâu sắc trong trái tim người đọc. Trong văn học, cái đẹp chính là thước đo quan trọng nhất. Cái đẹp ấy không chỉ nằm ở cảnh sắc thiên nhiên, ở hình tượng con người mà còn ở cách biểu đạt, ở sức gợi của ngôn từ, ở chiều sâu tư tưởng mà tác phẩm gửi gắm.
Nguyên Ngọc từng nói “Đã là văn chương thì phải đẹp” cũng bởi văn chương chỉ có thể đi vào lòng người thông qua cánh cửa của cái đẹp. Người đọc đến với văn chương không phải chỉ để tiếp nhận tri thức, mà còn để cảm nhận, rung động, thưởng thức. Trong khi đời sống vốn nhiều vất vả, lo âu, văn chương xuất hiện như một nốt nhạc làm dịu tâm hồn. Nhà văn, nhà thơ nhờ tài năng sáng tạo của mình đã “lọc” cái đẹp từ cuộc đời, nâng nó lên thành nghệ thuật để rồi trả lại cho con người một thế giới lung linh, giàu ý nghĩa hơn. Bởi vậy, dù xét ở phương diện nhận thức hay giáo dục, văn chương vẫn phải thấm đẫm cái đẹp thì mới có thể chạm tới trái tim độc giả.
Nếu thơ Xuân Diệu là rực rỡ, nồng nàn như ngọn lửa tình, thơ Huy Cận là mênh mang vũ trụ, thơ Chế Lan Viên thâm trầm triết lý, thì thơ Nguyễn Bính lại gắn liền với làng quê mộc mạc, bình dị, với nhịp sống dân dã mà thiết tha. Trong Mùa xuân xanh, ông đem đến cho người đọc một bức tranh xuân đầy sức sống và chan chứa tình yêu.
Trước hết, cái đẹp trong bài thơ hiện lên qua bức tranh thiên nhiên. Ngay từ câu mở đầu:
Mùa xuân là cả một mùa xanh
Chỉ một câu thơ thôi đã mở ra cả không gian ngập tràn sức sống. Mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính không rực rỡ muôn sắc như trong thơ Xuân Diệu, không mênh mang như trong thơ Hàn Mặc Tử, mà giản dị với duy nhất gam màu xanh – màu của sự sống, của hi vọng, của tuổi trẻ. “Giời ở trên cao, lá ở cành, lúa ở đồng tôi và lúa ở đồng nàng và lúa ở đồng anh”, chuỗi hình ảnh ấy làm nên một không gian nhiều tầng bậc, bao trùm làng quê Việt Nam. Thiên nhiên xuân tươi sáng, êm đềm, gần gũi, thân thương. Ở đó, trời xanh, lá xanh, lúa xanh, tất cả như đang hoà ca bản nhạc xanh căng tràn nhựa sống.
Nhưng bức tranh thiên nhiên ấy không dừng lại ở sự miêu tả khách quan, mà còn hòa quyện với nhịp điệu tâm hồn con người. Cái đẹp của bài thơ chính là cái đẹp của những rung động tinh tế. Trước cảnh “cỏ năm trên mộ đợi thanh minh”, nhà thơ không chỉ gợi lên vòng tuần hoàn của thời gian mà còn gửi vào đó niềm thương nhớ, sự tri ân với quá khứ. Và nổi bật hơn cả là tâm trạng của nhân vật trữ tình – “tôi đợi người yêu đến tự tình”. Nỗi chờ mong ấy rất đỗi nhân bản, rất đỗi thân thương. Mùa xuân không chỉ là mùa của đất trời mà còn là mùa của tình yêu, mùa đánh thức những khát vọng hạnh phúc trong tâm hồn con người.
Đặc biệt, cái đẹp của bài thơ còn nằm ở hình ảnh biểu tượng: “Bắt đầu là cái thắt lưng xanh.” Cái thắt lưng – chi tiết tưởng chừng bình thường trong đời sống thôn quê qua ngòi bút Nguyễn Bính lại trở thành điểm nhấn gợi tình. Màu xanh của thắt lưng hoà cùng màu xanh của thiên nhiên tạo nên một sự cộng hưởng đầy duyên dáng: xuân của đất trời, xuân của lúa đồng, xuân của tình yêu đôi lứa. Đó là vẻ đẹp bình dị mà lãng mạn, vừa hiện thực vừa giàu chất thơ.
Không thể không nhắc đến cái đẹp trong hình thức nghệ thuật của bài thơ. Nguyễn Bính đã chọn những từ ngữ giản dị, trong sáng nhưng đầy sức gợi. Ông sử dụng lối thơ vắt dòng, một kĩ thuật hiện đại khiến mạch thơ trôi chảy, tự nhiên, như hơi thở của cuộc đời. Biện pháp điệp (“lúa ở đồng tôi và lúa ở đồng nàng và lúa ở đồng anh”) vừa tạo nhịp điệu vừa mở rộng không gian, khiến sắc xuân như trải dài khắp bầu trời làng quê. Các thủ pháp nghệ thuật như đối, nhân hóa được vận dụng tinh tế, thấm đẫm phong vị dân gian, để lại dư vị ngọt ngào trong lòng người đọc. Tất cả góp phần làm nên một tác phẩm thơ ca vừa đẹp về nội dung, vừa đẹp về hình thức đúng với yêu cầu mà Nguyên Ngọc đã nêu.
Qua Mùa xuân xanh, ta càng thấy rõ chân lý “Đã là văn chương thì phải đẹp.” Cái đẹp ở đây không chỉ đơn giản là cái nhìn thẩm mỹ bề ngoài, mà còn là sự hòa quyện giữa nội dung và hình thức, giữa tình và cảnh, giữa hồn và xác. Bài thơ của Nguyễn Bính đẹp ở cảnh xuân thiên nhiên, đẹp ở tình xuân con người, đẹp ở hình thức nghệ thuật. Tất cả cái đẹp ấy gặp nhau, nâng đỡ nhau, làm nên sức sống lâu bền của thi phẩm.
Nhận định của Nguyên Ngọc không chỉ đúng với Mùa xuân xanh mà còn là kim chỉ nam cho văn chương nói chung. Người nghệ sĩ sáng tác văn học cần hướng tới cái đẹp, không phải là vẻ đẹp tô vẽ giả tạo, mà là vẻ đẹp chân thật, được chắt lọc từ hiện thực và thăng hoa trong nghệ thuật. Người đọc, khi đến với văn chương, cũng phải biết rung động, biết tìm ra cái đẹp, bởi hành trình của văn chương chỉ thật sự trọn vẹn khi có sự đồng sáng tạo giữa nhà văn và độc giả.
Có thể nói, Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính là minh chứng tiêu biểu cho quan niệm nghệ thuật của Nguyên Ngọc. Bài thơ đem đến một bức tranh thiên nhiên ngập tràn sức sống, một tâm hồn trữ tình tha thiết với tình yêu, một hình thức nghệ thuật giản dị mà tinh tế. Đọc Mùa xuân xanh, ta không chỉ thấy mùa xuân của đất trời, của làng quê, mà còn thấy mùa xuân của lòng người trong sáng, nồng nàn, đầy khát vọng hạnh phúc. Và từ đó, ta càng tin rằng: Đã là văn chương thì nhất định phải đẹp bởi chỉ có cái đẹp mới khiến văn chương trường tồn, khiến con người tìm đến văn chương như tìm về một nguồn mạch nuôi dưỡng tâm hồn.

























Thảo luận về bài viết này