Đề bài: Trong bài viết “Văn học đã giúp ta biết gì về những kẻ khác”, nhà phê bình người Pháp Alexandre Gefen có đưa ra một nhận định:
“Một tác phẩm văn học được sáng tác ra không phải để đưa ra những chứng minh như trong toán học hay vật lí, không nhằm xác lập những quy luật hay thực tế phổ quát, mà ngược lại, nó cho phép ta được biết tới, được tiếp cận với những trường hợp rất đặc thù mang tính gợi mở, gây hoang mang, những tình huống độc đáo và ấn tượng, những ví dụ nhạy cảm và khó quên.”
Anh /chị có suy nghĩ gì về nhận định này? Minh họa quan điểm của mình bằng một vài tác phẩm tự sự tự chọn.
Bài làm của HS: đọc – hiểu bộ ba tác phẩm “Vàng lửa” – “Kiếm sắc” – “Phẩm tiết” của Nguyễn Huy Thiệp
Con người là đối tượng muôn đời của văn chương. Hơn thế nữa đó còn là những con người sống động, tinh vi – những cá thể dị biệt của cuộc đời. Chính nhờ cách tiếp cận con người như thế mà văn chương có được những đặc tính kì diệu: “Một tác phẩm văn học được sáng tác ra không phải để đưa ra những chứng minh như trong toán học hay vật lí, không nhằm xác lập những quy luật hay thực tế phổ quát, mà ngược lại, nó cho phép ta được biết tới, được tiếp cận với những trường hợp rất đặc thù mang tính gợi mở, gây hoang mang, những tình huống độc đáo và ấn tượng, những ví dụ nhạy cảm và khó quên.” Những “ví dụ nhạy cảm và khó quên” ấy, thực tôi đã thấy trong những trang văn Nguyễn Huy Thiệp.
Bất cứ thứ gì con người tạo ra cũng nhằm đem lại hạnh phúc, phục vụ con người. Chúng ta không thừa hơi đi trăn trở, cải tạo cuộc sống kẻ khác. Máy móc, nhà cửa, rồi sau đó là chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo,… tất thảy đều lấy đích đến cuối cùng là con người. Vì thế điểm xuất phát của chúng phải nằm ở chính con người. Mối quan tâm hàng đầu của con người là chính chúng ta. Khoa học, các hình thái ý thức xã hội không nằm ngoài quy luật ấy. Như vậy, “đối tượng của văn chương là con người” dường như là một mệnh đề vừa vừa, chung chung, không cụ thể, cũng chẳng khái quát. Bởi lẽ, như đã nói, chẳng cứ gì văn học, hàng ti tỉ môn học khác cũng lấy con người làm đối tượng. Hơn nữa, con người ở những môn ấy cũng khai chiến ác liệt giành quyền lên ngôi trong cái “thượng tầng kiến trúc” của xã hội. Vậy điều gì có thể cứu văn học khỏi cái đặc trưng – “đối tượng là con người” – chung chung và mờ nhạt? Điều gì khiến văn học không bị nuốt gọn bởi một chính trị sát sao và quyền lực với cuộc sống, một đạo đức tôn kính và đáng nể vì, một tâm lí học sành sỏi và cũng khai thác “thế giới bên trong” của con người ra trò? Nhà phê bình người Pháp Alexandre đã chỉ ra: Bởi văn học là những “trường hợp đặc thù”, chông chênh, dễ gây “hoang mang” nhưng cũng vô cùng “gợi mở”. Bởi văn học là những “ví dụ nhạy cảm và khó quên”. Chỗ đứng của văn học chính ở chỗ: Trang văn cho thấy những con người cá thể, những con người bất ngờ và không hoàn chỉnh, những con người dằn vặt, thậm chí vật lộn với thế giới bên trong mình. Họ là những con người đứng ngoài, những con người chỉ xuất hiện một lần.
Tôi rất thích cách nói của nhà phê bình Gefen. Quả thực văn học nên và chỉ nên đưa ra những “ví dụ” – “nhạy cảm và khó quên”. Nếu vật lý, sinh học,… đưa ra những công thức, khái niệm để định danh cho sự hiện diện mang tính tồn tại của con người, thì văn học đem lại hơi thở cho đám số má ấy. Hơn thế nữa, văn học còn như những động từ bất quy tắc trong tiếng Anh, cứ có bao nhiêu quy tắc thì có bấy nhiêu trường hợp bất quy tắc. Khoa học có bao nhiêu định danh về tồn tại của con người thì văn học có bấy nhiêu số phận nằm ngoài quy định ấy. Trong văn học, ta luôn bắt gặp những con người bơ vơ, những số phận lạc lõng, bị bỏ quên, lặng lẽ ở lại phía sau dòng người đang cuồn cuộn trôi trong dòng chảy bất tận của lịch sử. Chính ở những “ví dụ” nhỏ bé khiêm tốn ấy, ta thấy cả hai gương mặt – đám đông “hợp thời” và cá nhân “lạc bầy”. Chính ở đó ta băn khoăn tự vấn liệu mình có phải gương mặt vô diện trong cái đám đông kia, và liệu không “lạc bầy” đã là lựa chọn đúng? Văn học khác đạo đức là ở chỗ đó. Đạo đức cho con người ta hai con đường: một là khuôn phép, hai là hỏng, anh bắt buộc phải nghe theo đạo đức. Văn học mềm mại hơn. Nó cho ta thấy, chờ ta suy ngẫm, và ngấm ngầm bắt ta ngẫm mãi, lâu rồi trở thành ăn năn, dằn vặt, quay quả chật vật. Có ba cái câu văn tả cảnh mà cũng làm anh Hộ vật lên vã xuống, đánh vợ đuổi con, khóc một cách đắng ghét. Đạo đức là tiếng răn của đám đông dành cho mỗi thành viên, văn học là câu chuyện tự thú của những cá nhân không được đạo đức chấp nhận. Tôi rất thích đọc văn Nguyễn Huy Thiệp. Con người trong văn ông bao giờ cũng là những ví dụ, cực kì nhạy cảm và không thể quên. Không khó nhận ra hay kiểu nhân vật quen thuộc trong những trang viết ấy: những kẻ tật nguyền, dị hợm, kì quái, luôn vật vã trong một niềm si mê khó hiểu nào đó, và những “con gái thủy thần”, nàng Vinh Hoa lộng lẫy và quý phái, nàng Mị Nương cao sang đẹp đẽ. Tôi muốn tìm hiểu con người trong văn học ở một kiểu nhân vật vừa là những kẻ đáng thương, vừa là những vật “quốc bảo” đáng sợ, đáng trân quý – những ông vua – trong truyện ngắn “Phẩm tiết”.
Muốn trở thành định nghĩa, phải là đúc kết, thế nhưng con người văn chương lại không chịu nằm yên một chỗ. Đó là những bản thể từ chối ngưng đọng, những bản thể luôn luôn xoay vần trong quá trình tiệm cận hoàn thiện của nó. Con người trong văn chương cứ luôn đang sấp ngửa một cái gì đó. Trên hành trình chạy và ngã của mình, con người mở ra biết bao nhiêu là khả năng – cái mà Gefen gọi là “gợi mở”. Bên cạnh hình ảnh một ông vua quát thét ra lửa, chỉ một câu nói có thể làm cho mạng người lay chuyển, vua Quang Trung còn có một diện mạo khác. Như bao bậc minh quân, sau chiến thắng, người với những kẻ giàu có, trí lực đến kết giao, lấy đó làm điểm tựa xây dựng thái bình thiên hạ. Ông có là một nhà vua sáng suốt? Có. Khi tên nhà buôn ngạo mạn chê món ăn tiệc vua “có vị lợm”, người chỉ cười nhạt, ông có sâu sắc trải đời? Có. Khi nổi giận với đám lễ vật bất kính của Ngô Khải, người lập tức sai quân vây bắt, ông có oai phong quyền lực? Có. Nhưng đó là biên ghi của một nhà chép sử. Nguyễn Huy Thiệp còn cho ta thấy một nhà vua “đang đêm xõa tóc, đi chân đất, vừa đi vừa vấp, chạy vào báo cho Vinh Hoa việc Khải mất”. Sẽ không bao giờ có một ông vua như thế trong sử sách. Nhưng chính ở cái hoang mang này, ta mới thấy được phần nhân tính trong một ông vua – một con người như bao kẻ tầm thường nhỏ mọn trước tội lỗi của mình. Dẫu biết ngai vàng vua ngự đắp bằng những cục máu, ta phải xét lại: Phải chăng vua Quang Trung với các bộ tịch sấp ngửa ấy, ông cũng chỉ là một mầm sống với niềm kinh hãi tột độ khi gây ra cái chết của một mầm sống khác. Thì ra con người nào có thoát khỏi quy luật muôn đời của tạo vật – yêu sống, ham sống, hướng sống. Nguyễn Huy Tưởng đã đối thoại lại với định kiến của lịch sử, vua Quang Trung kia, cũng giống như chàng Rama phút chót vẫn nổi cơn ghen tuông với vợ, cũng chẳng khác chàng Asin nhỏ giọt nước mắt khóc người bạn bị giết, những con người ấy, dù có được thần thánh hóa, dù có là “thiên tử”, trước sau vẫn cứ là con người, mãi mãi nhỏ bé, không hoàn tất, không biết hết và cũng không được biết hết.
Đặc trưng con người văn chương không chỉ nằm ở bản chất đối tượng mà nó miêu tả cái làm nên sức hút cho con người văn chương còn ở chỗ: Văn chương tiếp cận con người ấy dưới góc độ cá thể. Luôn luôn ta thấy những con người cá nhân, tách biệt, nói một cách “bi kịch” hơn, đó là những con người lạc lõng, cô độc giữa cuộc đời. Chúng ta thấy một Vũ Như Tô không được hiểu, chết đi mang theo sự sụp đổ của Cửu Trùng đài – ước mơ “tranh tinh xảo với hóa công”, một hồn Trương Ba cứ nằng nặc “tôi muốn là tôi toàn vẹn” trong khi đến cả “Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng”, một ông lão Xan-tia-gô gồng mình lên, bải hoải đi để chiến đấu với biển khơi và rút cục mang về một bộ xương khổng lồ mà cũng chẳng ai biết để làm gì. Họ là những người cô độc, nhưng may mắn thay, cô độc trên con đường đi tìm chân lí. Họ có quyền được đứng trên thất bại và lạc lõng của số phận. Cái tôi muốn nói đến ở đây có lẽ không phải là sự cô độc cao thượng như thế. Cái cá nhân, cá thể của một ông vua có lẽ không cao quý như địa vị ông ta. Vua Gia Long nói: “Binh đao là trò chơi của trời. Sao mày lại hỏi ta? Ta chơi trò khác, chơi trò đế vương”. Cái trò đế vương ấy ông vua nào chẳng phải chơi. Ở đó, ông vua là con nhện khổng lồ nắm trong tay cái mạng vinh hoa phú quý mà đánh bắt những kẻ xấu số mon men, trái ngang ở chỗ, những kẻ xấu số ấy trong trường hợp này lại là những con nhện. Nhện vua vừa cần, vừa sợ những miếng mồi béo bở xung quanh, không biết mình ăn nó, hay nó ăn mình. Đọc “Phẩm tiết”, thấy kẻ nào thân với vua rồi cũng đến lúc chết. Vua Quang Trung giết Khải, ghét bọn Kỷ, vua Gia Long giết Vũ Văn Toàn, chửi Văn Thành. Hai ông vua cừu địch mà hóa ra đều lâm vào một bi kịch chung: Kẻ thiết lập đám đông, những tưởng sống giữa cái sôi nổi, đông đúc nhất của nhân quần hóa ra lại là một cá thể “lạc bầy”, nghi kị và cảnh giác ngay trong mảnh đất của mình. Không mấy ai đọc mỗi một “Phẩm tiết” trong bộ ba “Kiếm sắc” – “Vàng lửa” – “Phẩm tiết”, trong “Vàng lửa”, tác giả có một nhận định sắc sảo về vua Gia Long: “Nhà vua là một khối cô đơn khổng lồ. Ông đóng trò rất giỏi trong triều đình… Ông luôn lo sợ bởi quyền lực nắm trong tay, nó lớn ngoài sức chứa một con người”. Thiết nghĩ, đó là một nhận xét đúng cho cả hai hình tượng vua trong “Phẩm tiết”. Con người này cô đơn thực sự, cô đơn bởi tất cả những kẻ khác đều muốn hạ bệ mình, chiếm lấy phú quý. Đó là cái cô đơn đau đớn của một kẻ nhận ra: mọi cái gọi là trung quân, là hi sinh, là thờ phụng, đều chỉ là giả dối; bọn người kia đến với ta chẳng qua vì cái thứ mà ta đang ngồi lên, đang nắm giữ. Nếu một ngày có thằng ăn mày leo lên ngai vàng mà mặc long bào, thì chúng nó cũng vẫn cứ cum cúp thờ phụng, mà “trung quân”, mà “vạn tuế”. Đó là cái cô đơn còn đáng sợ hơn cả một người bị bỏ rơi ngoài đảo hoang, đáng sợ hơn cả cái cô đơn của thằng Chí Phèo “đói rét, ốm đau và cô độc”. Thà ghét thì cứ nói là ghét, không quan tâm thì cứ lơ đi, đằng này không, cái đời sống cộng sinh nó không cho phép. Cô đơn của những ông vua, đó là nỗi khổ của kẻ phải sống gần gũi với những kẻ giết người mà mỉm cười dịu dàng; nó đau hơn nhiều cô đơn bởi những kẻ giết người không che đậy, những kẻ ít nhất còn dám huỵch toẹt: “Thằng nào chứ hai thằng ấy chết thì mình không tiếc”.
Tại sao viết về con người cá thể mà tôi lại cứ muốn “bi kịch hóa” nó thành cô độc?! Nhưng quả thực không cô độc không được. Muốn trở thành cá thể, con người phải biết sống tách khỏi bầy đàn, dám sống là mình chính mình, phải dũng cảm mà chiến đấu với cái bầy đàn đang lăm le trừ khử đi đứa con lạc bầy. Như vậy thì thử hỏi, không cô độc sao được? Nhưng chính ở chỗ tách bầy đó, ta mới thấy con người đáng quý. Nếu cuộc sống chỉ có ào ào đi lên theo lịch sử, vâng lệnh chính trị mà gạt đi mọi cái giá phải trả, thì có lẽ con người có thể định nghĩa được. Nhưng con người không chỉ cần đi lên, bước tiếp trên tiến trình lịch sử nhân loại, con người còn cần phải lắng, phải sống. Văn học cho ta thấy mặt sau của những tấm huy chương, cái giá đắt cho mỗi bước đi con người. Nó cho ta thấy những ông vua nhàu nát và trần trụi vì tính toán, vì trải đời, cho ta thấy kẻ bầy tôi chết bởi chính lưỡi gươm của mình, cho ta thấy chàng Trương Chi với giọng hát nghệ thuật trong trắng của mình ứ họng lên vì phải hát ca ngợi tiền, ca ngợi công danh. Ở cá nhân, mọi quy chuẩn có lí đều không vừa vặn, dường như cái gì cũng lệch chuẩn, thậm chí vượt khung, bịt chỗ này thì hở chỗ khác. Chính ở đó, văn học cho thấy sức mạnh của mình. Những trang viết cứ cần mẫn thâu góp mảnh đời nhỏ bé, cho ta thêm dày lên trải nghiệm. Trong chính bài viết “Văn học đã giúp chúng ta biết gì về “kẻ khác”?”, Gefen nói: “Văn học – kẻ duy nhất có tham vọng mở lại được cánh cửa mà Vulcain đã lỡ tay chốt chặt để giúp chúng ta nhìn thấy được tâm hồn của những kẻ khác”, hơn thế nữa, “trở thành những kẻ khác”. Trước khi thực hiện những chức năng giáo dục cao quý nào đó, văn học cho con người cảm giác và trải nghiệm, được sống qua bao thăng trầm mà có lẽ một số phận không thể có hết được. Văn học, là nơi nâng niu các giá trị thiểu số, cho chúng ta – những thứ gọi là đa số, biết chấp nhận “kẻ khác”, sống một cách có nhân tính hơn. Sự bất toàn và cô độc của con người đi vào văn chương qua thế giới tinh thần. Mọi khía cạnh của con người suy cho cùng cũng chỉ quy về xuất phát điểm là sự vận động của dòng ý thức. Trong thế giới vi diệu và phức tạp ấy, các nhà văn đua tài, có người vụt lên sáng mãi, và tất nhiên, có kẻ chìm nghỉm vào bóng tối. Ở đó, con người chưa một lúc nào bị đơn giản hóa, bao giờ cũng được nhìn trong cái cá thể đa nhân cách, đa trị của mình. Từ những câu ca dao nho nhỏ:
“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”
trong cái hình thức rất đỗi giản dị của văn học dân gian ấy, tâm trạng tiếc nuối, hờn ghen, dằn dỗi mơ hồ đã được cụ thể hóa qua bước chân dùng dằng, loanh quanh của con người. Đến những câu thơ Nguyễn Trãi nặng lòng ưu thời mẫn thế: “Rồi hóng mát thuở ngày trường” Ở đó, có cái nhẹ nhõm của con người nghệ sĩ hòa mình, lắng mình vào thiên nhiên, vừa dằn vặt, u uẩn tựa một tiếng thở dài – nén rồi mà vẫn trào ra – của con người bị buộc phải nhàn, thân nhàn mà trí không nhàn, tâm không nhàn. Bước vào thế giới hiện đại hơn của thế kỉ XX, ta bắt gặp một Hộ của Nam Cao với những giằng xé giữa bi kịch lí tưởng và bi kịch tình thương, nỗi đau đớn dai dẳng của con người đánh đu giữa những khát vọng, chẳng chạm đến cái nào, nhưng cũng không chịu bỏ cuộc. Cuộc đời của Hộ cứ phập phồng, hồn hển vì những lần bứt lưới tung ta muốn hi sinh tình thương, gia đình rồi lại thần thức nhận ra mình chỉ là thằng “khốn nạn”, lại cần mẫn vá lưới chui vào. Văn chương nhân đạo chính ở những tâm hồn đa diện ấy. Văn chương nâng niu từng con người, bởi lẽ mỗi con người tiềm ẩn biết bao khả năng và giá trị chưa biết. Nếu chiến tranh có một triệu không trăm linh một người chết, chắc chắn lịch sử sẽ “làm tròn” thành một triệu. Thế nhưng rất có thể, số phận bị lãng quên ấy lại trở thành anh kĩ sư pháo binh Sáclơ Ogiêni Lôngxêvin của Pauxtopxki – trở thành văn chương. Nếu trong cung vua có hàng nghìn phi tần, có bà Ngọc Nga lưu danh sử sách, thì cũng chẳng ai dám cản Nguyễn Huy Thiệp viết về Ngô Thị Vinh Hoa – người cung nữ thậm chí còn chưa thành thân với vua. Muôn đời trong văn chương là những số phận ngoài lề. Bởi, nằm ngoài thì mới có cái mà khai thác, nếu người đọc khăng khăng muốn nắm một cái nhìn “trên cao và toàn cảnh”, xin mời sang quầy sách chính trị và lịch sử. Ở đó, đám đông vô diện và và tượng đài chiến thắng đang vẫy gọi bạn, còn văn chương ư? Đó là tiếng thở dài, là lời rì rầm thủ thỉ, là điệu tâm hồn đa thanh phức hợp. Và ở đây, tuy bạn không giải mã được con người, nhưng văn chương sẽ cho bạn thấy: Tại sao con người lại phức tạp đến thế? Chân lí thì khó nắm bắt, và cuộc đời thì là những cuộc hành trình nhiều ngả cho câu hỏi “Tại sao”. Bước vào “Phẩm tiết”, người đọc thấy một quy luật lịch sử muôn đời – nghi kị và tàn nhẫn là bạn đồng hành của bậc đế vương. Những kẻ theo gót Quang Trung và Gia Long lần lượt nộp mình dưới chân chủ. Nguyễn Huy Thiệp cho thấy: chơi với vua như đùa với hồ. Ngô Khải vì ngạo mạn ích kỉ mà ôm lấy cái chết, Vũ Văn Toàn vì ham tiền mê gái mà hết sống. Hơn thế nữa, lịch sử còn sờ gáy cả vua chúa. Đau đớn đáng thương thay: “Vua Quang Trung hỏi nhỏ: “Vận Tây Sơn được mấy đời?.” Vinh Hoa bảo: “Sao không hỏi được bao nhiêu ngày?.” Nhà vua hỏi vận nước trường đoản cũng là ngầm hỏi về sự vững chắc của ngôi vị chính mình. Sau câu trả lời của Vinh Hoa là nỗi khủng hoảng cực độ trong lòng vua, là tiếng thở dài lo âu của con người anh hùng hảo hán. Nỗi lòng ấy là gương mặt tinh thần ẩn khuất của vua Quang Trung — con người lo âu khổ sở trước sự chông chênh của ngai vàng, của số phận. Vua Gia Long lại hiện lên với nỗi khổ khác: “Sứ mệnh đế vương thật là sứ mệnh khốn nạn, chỉ được quyền cao cả, không được quyền ti tiện”. Hóa ra nơi người đặt ra quy phạm lại bùng cháy cái khao khát bất quy ấy. Bi kịch vua Gia Long là ở chỗ: con người khao khát những hạnh phúc nhỏ bé tầm thường, được một lần hạnh phúc vì đi ngược những phép tắc chuẩn mực – niềm mong mỏi chân thành và nhân bản – mà không thể được. Con người vốn không hoàn hảo – tốt có, xấu có, cao cả có, thấp hèn có. Bi kịch thay cho người nào “không được quyền ti tiện” sống giả dối với chính bản thân mình.
Từ những gương mặt tinh thần đau khổ ấy, tác giả cho ta thấy quy luật muôn đời của cuộc sống. Thời nào cũng thế, kiếp nào cũng thế, con người như đám thiêu thân lao vào vinh hoa phú quý. Rũ sạch hết đi những danh từ phủ gấm, cai mộng của con người trần thế chẳng qua là hai chữ: Tiền và Tình. Nguyễn Huy Thiệp đã đi từ quá khứ đến hiện tại, đi từ thế giới tinh thần của vài cá thể để thấy cả thế giới bất trắc và phản nghịch của con người. Nhưng văn chương nhạy cảm và nhân văn, nó không chỉ gây “hoang mang” mà còn muốn an ủi con người, không chỉ “khó quên” mà còn muốn để lại cho một cái mầm tốt đẹp nào đó trong lòng người. Chính vì lẽ ấy, văn Nguyễn Huy Thiệp không chỉ có những gã đàn ông cục súc, mù quáng và đê tiện, ở đây còn có cả những con người phái yếu. Đó là những người không đơn thuần là nữ tính. Đó là những người mang thiên tính nữ. Họ là ai? Là chị Sinh, chị Thắm, là con gái thủy thần, cô Quy, chị Hiên, là nàng Sinh ở bản Hua Tát, thậm chí, ở một góc độ nào đó, là cả con khỉ cái chung thủy và dũng cảm. Nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp là những biểu tượng. Người nữ là biểu tượng cho một cái gì dịu dàng, trong sạch, ấm áp, một cái gì nhỏ bé nhưng bền bỉ như mầm sinh mầm sống. Với nàng Ngô Thị Vinh Hoa, đó còn là biểu tượng cho cái Đẹp, mong manh nhưng bất diệt.
Vinh Hoa có một cuộc đời thực như cái tên của nàng, sinh ra ở chốn lầu son gác tía, lớn lên trong nhung lụa, hai lần được vào cung, lần nào cũng được vua yêu chiều trân quý, chết đi rồi lại được an táng rất hậu. Nàng xinh đẹp, tài hoa và có một thần thái lạ kì. Phải chăng Nguyễn Huy Thiệp muốn gửi vào đó tấm lòng nâng niu của mình với cái đẹp. Vạn người chỉ có một Vinh Hoa, nhưng nàng khiến tất thảy đều kính phục nể vì cái đẹp ấy khiến kẻ tầm thường phải kinh hãi, thất sắc, xây xẩm mà “ngã quay ra đất”. Cái đẹp ấy không chấp nhận dù chỉ chút nào sự vấy bẩn, ô trọc. Cái đẹp ấy tuy hiếm hoi, mong manh nhưng luôn tồn tại. Cái đẹp như phép màu nhiệm của trời đất, gửi xuống an ủi đám nhân quần hỗn loạn và u tối. Vậy, viết về vua Quang Trung, Gia Long, viết về Vinh Hoa, Nguyễn Huy Thiệp muốn nói gì? Văn Nguyễn Huy Thiệp tựa như những bức tranh siêu thực: những mảnh ghép kì dị tưởng chừng rời rạc, những hình ảnh bị bóp méo, biến dạng nhưng lại hàm chứa một logic nghệ thuật riêng. Trong tác phẩm này, ranh giới giữa hư và thực, giữa lịch sử và hiện tại, giữa tôn nghiêm và suồng sã dường như bị xóa nhòa. Chính tính dân dã trong ngòi bút của tác giả đã đem đến một cái nhìn khác lạ về cung vua phủ chúa, đồng thời giải thiêng những bậc anh hào vốn được lịch sử và văn học truyền thống đặt trên bệ cao của sự tôn kính. Một bên là hiện thực trần trụi, “cô độc mới đủ, có phũ như chó mới giàu”, một bên là cái đẹp trong trắng trinh khiết. Hai thứ ấy như lửa với nước, không thể tồn tại cùng nhau, nhưng cái oái oăm thay lại cứ luôn giáp mặt. Đến tận bệ rồng, cái ti tiện tầm thường vẫn cứ thản nhiên diễn ra. Phải chăng, đó chính là con mắt nhìn đời chua chát, “kiêu bạc và tàn nhẫn” (Vương Trí Nhàn) – con mắt thấu suốt cõi nhân sinh quay cuồng vô nghĩa này?! Thế nhưng, nhan đề của tác phẩm là “Phẩm tiết”. Điều tác giả muốn nói đến hẳn không chỉ là cuộc đời đen tối kia. Vượt lên trên bùn nhơ, con người cần có lẽ sống “phẩm tiết”. Phẩm tiết ở đây có lẽ đúng như lời đại thi hào Nguyễn Du – “Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường”, không hoàn toàn là tiết hạnh. “Sự nhị quân, vinh thủ trinh tâm” – phẩm tiết ở đây thực sự là “trinh tâm” – là tấm lòng trinh trắng, cao hơn mọi toan tính lừa lọc vòng danh lợi. Đó là lẽ sống an thường. Sống, là bớt đi mưu đồ, sống nhân ái hơn, tử tế hơn. Dẫu biết “gió mây có biến hóa”, tiếng đàn nàng Vinh Hoa vẫn thầm thì qua ngàn năm lịch sử: “Giữ chữ “thường” Chính đạo thuần vương”.
Cuộc đời này chỉ có một chân lí, chúng ta là vô số ví dụ cho chân lí ấy. Chẳng ai biết bí mật vĩ đại kia là gì, vì thế mà con người cần đến nhau. Khoa học hăm hở đi lên những muốn chinh phục đỉnh cao tri thức, triết học, chính trị, đạo đức vật vã tìm đến đỉnh cao của xã hội. Văn chương nghệ thuật không lấy đỉnh cao làm cứu cánh. Con người văn chương nhỏ bé thôi, yếu ớt thôi, nhưng chứa đựng thế giới tinh thần muôn đời sâu thẳm. Sức mạnh văn chương là ở đó, không cải tổ, không cách mạng, những trang viết chạm vào ta dần dần, từ từ, như mầm cây non cần mẫn chờ đợi ngày nảy nở. Một khi rễ đã bén, nó bền chặt và mạnh mẽ tựa tự nhiên. Cái gì tự nhiên, thì sẽ bất diệt.

























Thảo luận về bài viết này