I- Dàn ý chung
1. Mở bài
– Dẫn dắt vào vấn đề nghị luận.
– Giới thiệu vấn đề nghị luận: phân tích hình ảnh và cấu tứ cửa bài thơ.
2. Thân bài
a. Khái quát
– Tác giả: Nêu vị trí, phong cách nghệ thuật của tác giả.
– Tác phẩm: Nêu hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính của bài thơ.
b. Phân tích/ đánh giá cấu tứ của bài thơ
– Quan niệm về cấu tứ: Cấu tứ là một khâu then chốt, mang tính chất khởi đầu của hoạt động sáng tạo nghệ thuật nói chung và sáng tạo thơ nói riêng. Cấu tứ được coi là hạt nhân kết cấu thơ là cách triển khai, tổ chức hình ảnh, mạch cảm xúc của bài thơ; là sự cắt nghĩa, lí giải và khái quát hiện tượng đời sống bằng một hình tượng.
– Cấu tứ qua hệ thống hình ảnh và mạch cảm xúc
+ Hệ thống hình ảnh gợi ra thế giới thiên nhiên, cuộc sống (Ở đâu? Có đặc điểm gì? Hệ thống hình ảnh được sắp xếp theo trình tự nào? Thế giới đó xuất hiện trong quá khứ hoài niệm hay hiện
+ Mạch cảm xúc: sự vận động, thay đổi trong cảm xúc của nhân vật trữ tình qua các mốc thời gian, sự kiện quan trọng.
• Đánh giá cấu tứ trong thể hiện hình tượng nhân vật trữ tình, trong tài năng sáng tạo độc đáo của nhà thơ.
c. Phân tích hình ảnh trung tâm.
Chọn phân tích 1 đến 2 hình ảnh chính xuyên suốt toàn bài: Hình hình gợi ra thế giới như thế nào? Cách xây dựng hình ảnh có gì độc đáo? Qua hình ảnh để lộ tâm trạng gì của nhân vật trữ tình?
d. Liên hệ mở rộng (với các bài thơ cùng để tài, cùng chủ để, cùng viết về hình ảnh trung tâm…)
e. Đánh giá đặc sắc nội dung, nghệ thuật.
– Đặc sắc nội dung: bức tranh cuộc sống, tâm trạng của nhân vật trữ tình, thông điệp, tư tưởng…
– Đặc sắc nghệ thuật: thể thơ, từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu…
3. Kết bài:
– Khẳng định ý nghĩa của cấu tứ, hình ảnh trong bài thơ.
– Nêu cảm nhận/ đánh giá chung.
II – Bài tập áp dụng
Đề bài: Phân tích nét độc đáo trong cấu tứ và hình ảnh của bài thơ “Nắng tươi” của nhà thơ Hàn Mặc Tử.
NẮNG TƯƠI
Mây hờ không phủ đồi cao nữa,
Vì cả trời xuân tắm nắng tươi…
Hơi nắng dịu dàng đầy nũng nịu,
Sau rào, khẽ liếm cặp môi tươi…
Môi tươi thiếu nữ vừa trang điểm,
Nắng mới âm thầm ước kết hôn,
Đưa má hồng đào cho nắng nhuộm,
Tình thay! Một vẻ ngọt và ngon…
Lá xuân sột soạt trong làn nắng,
Ta ngỡ, em ơi, vạt áo hường.
Thứ áo ngày xuân em mới mặc,
Lòng ta rộn rã nỗi yêu thương…
(Hàn Mặc Tử, Thơ và đời, NXB Văn học, 2003)
*Chú thích:
– Hàn Mặc Tử (1912- 1940) tên thật là Nguyễn Trọng Trí, là nhà thơ khởi xướng Trường thơ Loạn và cũng là người tiên phong của dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam. Ông còn có những bút danh khác trong sự nghiệp gồm Lệ Thanh, Phong Trần và Minh Duệ Thị.
– “Nắng tươi” được sáng tác vào thập niên 1930. Bài thơ tái hiện khung cảnh thiên nhiên tràn ngập ánh nắng trong trẻo, tưới sáng, ấm
Dàn ý tham khảo:
1. Mở bài
– Dẫn dắt vào vấn đề nghị luận.
– Giới thiệu vấn đề nghị luận: nét độc đáo trong cấu tứ và hình ảnh của bài thơ “Nắng tươi” (Hàn Mặc Tử).
2. Thân bài
a. Khái quát
– Tác giả: Trong làng Thơ mới, Hàn Mặc Tử là thi sĩ có diện mạo thơ vô cùng phong phú, sáng tạo và đầy bí ẩn với những vần thơ độc đáo.
– Bài thơ “Nắng tươi”:
+ “Nắng tươi” được trích từ tập “Gái quê” là một bài thơ trong trẻo bên cạnh những vần thơ quằn quại rách xé giữa linh hồn và thể xác của thi sĩ.
+ Chủ đề: vẻ đẹp tình tứ của nắng xuân, của thiên nhiên và con người lúc xuân vài liệu chuyên văn
b. Phân tích/ đánh giá cấu tứ, hình ảnh của bài thơ.
– Cấu tứ qua hệ thống hình ảnh và mạch cảm xúc:
+ Hình tượng nắng xuân là hình tượng chính trong bài thơ. Mở đầu bài thơ là sự xuất hiện của nắng xuân từ trên cao, được đánh dấu bằng nét thay đổi của thiên nhiên: trên đỉnh đồi cao không còn phủ mây hờ. Cả đất trời được tắm trong ánh nắng mới tinh khôi của khoảnh khắc giao mùa. Nắng được miêu tả như một nàng thiếu nữ tươi trẻ, tràn đầy sức sống, dịu dàng, e ấp mà đầy tình tứ.
+ Bước sang khổ thơ thứ 2, hình ảnh thiếu nữ hiện lên trẻ trung, tươi đẹp, rạo rực xuân tình trong ánh nắng xuân. Đôi môi tươi, cặp má hồng của thiếu nữ như được nắng nhuộm thêm thắm, thêm tình.
+ Khổ thơ cuối tập trung vào cảm xúc của nhân vật trữ tình. Lá non tớ mơn mởn xuân khẽ sột soạt, rung rinh trong làn nắng làm thi nhân ngỡ như vạt áo hường thiếu nữ mặc ngày xuân. Để rồi từ đó dấy lên niềm yêu da diết. Cảnh và người đều tràn ngập sắc xuân, sức xuân và tình xuân trong làn nắng xuân.
– Hình ảnh nắng xuân
+ Nắng trong trẻo, tươi mới (khổ 1): nắng tươi- đưa ra một tiêu chí, đặc điểm đặc biệt của nắng.
+ Nắng trẻ trung, tình tứ (khổ 1 và khổ 2) qua nghệ thuật nhân hóa: “dịu dàng, nũng nịu, liếm cặp môi tươi, ước kết hôn”.
+ Nắng tươi làm khơi dậy lên khát khao yêu đương của con người (khổ 3).
c. Liên hệ, so sánh
– Cùng viết về đề tài mùa xuân, nếu Nguyễn Bính nhấn vào sắc xanh của mùa xuân (Mùa xuân xanh), thì Hàn Mặc Tử lại tập trung miêu tả sắc hồng của nắng xuân qua vẻ đẹp của đôi môi, gò má thiếu nữ.
– Lưu Trọng Lư sử dụng hình ảnh “Nắng mới” để nói về ánh nắng xuân gợi nhớ đến những kỉ niệm ấu thơ gắn với hình ảnh người mẹ. Còn Hàn Mặc Tử lại miêu tả vẻ tươi của nắng, cái trẻ trung mơn mởn xuân tình của nắng xuân làm dậy lên khao khát tình yêu trong lòng người, trong lòng người thiếu nữ “âm thầm ước kết hôn” cũng như trong lòng chàng trại “rộn rã nỗi yêu thương”.
d. Đánh giá
– Đặc sắc nội dung: vẻ đẹp tình tứ của nắng xuân, của thiên nhiên và con người lúc xuân về dưới cái nhìn độc đáo và mới lạ.
– Đặc sắc nghệ thuật:
+ Hàn Mặc Tử sử dụng trong thi phẩm của mình đồng thời cả 2 lớp ngôn từ: vừa trau chuốt, bóng bẩy (nắng tươi, lá xuân…) lại vừa dân dã, tự nhiên (liếm). Nhưng tất cả đều ẩn chứa sức gợi cảm rất lớn của ngôn từ.
+ Biện pháp nhân hóa tạo nên hình tượng nắng sống động trong bài thơ, chứa chan tình xuân phơi phới. Hệ thống từ láy đã mang lại hiệu quả nghệ thuật cao cho tác phẩm. Câu cảm thán được đặt vào giữa bài thơ “Tình thay!” thể hiện cảm xúc dâng trào của thi nhân trước vẻ tình tứ của mùa xuân.
3. Kết bài
• Đánh giá lại đặc sắc về cấu tứ và hình ảnh trong bài thơ.
* Nêu cảm nhận/ đánh giá chung.
III – Bài viết tham khảo
Nhà thơ Chế Lan Viên từng tâm niệm: “Mỗi câu thơ là một lần lặn vào trang giấy/ Lặn vào cuộc đời rồi lại ngoi lên”.
Thật vậy, thi ca tựa như một “trạm tâm hồn” để cất giữ những khoảnh khắc riêng tư của trái tim rồi “bật hương” thành những đóa hoa thơ. Trú ẩn nơi từng con chữ, những vẫn thơ thanh thoát len lỏi vào tâm tưởng bao kẻ yêu nghệ thuật. Cũng cất lên những tiếng vọng để đời mà xao xuyến, bài thơ “Nắng tươi” của nhà thơ Hàn Mặc Tử đã bền bỉ ẩn náu trong trái tim người yêu thơ ca cũng như trên văn đàn nói chung. Đặc biệt “Nắng tươi” ghi dấu ấn “vân chữ” sáng tạo của thi sĩ bằng những cách tân độc đáo trong xây dựng cấu tứ và hình ảnh.
Nhà thơ không phải là một người “thợ” khéo tay trong việc lắp ghép, sắp xếp những mảnh chữ vào đúng chỗ mà phải là một “kĩ sư tâm hồn” không ngừng sáng tạo để ghi dấu ấn riêng trong hành trình ngắn ngủi của cuộc đời. Hàn Mặc Tử- ngôi sao băng rực rỡ của văn học Việt Nam có lẽ là một “nhà thơ thứ thiệt” như thế. Hàn Mặc Tử là chàng hoàng tử của xứ sở thơ lạ với diện mạo thơ vô cùng độc đáo. “Nắng tươi” được trích từ tập “Gái quê” là một bài thơ trong trẻo bên cạnh những vần thơ quằn quại rách xé giữa linh hồn và thể xác của thi sĩ. Bài thơ là vẻ đẹp tình tứ của nắng xuân người lúc xuân về.
Niềm vui của nghệ sĩ chân chính là niềm vui của người dẫn đường cho người đọc đến “xứ sở của cái đẹp”. Cánh cửa dẫn người đọc đến “Xứ sở của cái đẹp” trong một tác phẩm trữ tình được mở ra từ cấu tứ. Cấu tứ là một khâu then chốt, mang tính chất khởi đầu của hoạt động sáng tạo nghệ thuật nói chung và sáng tạo thơ nói riêng. Cấu tứ được coi là hạt nhân kết cấu thơ là cách triển khai, tổ chức hình ảnh, mạch cảm xúc của bài thơ; là sự cắt nghĩa, lí giải và khái quát hiện tượng đời sống bằng một hình tượng. Nếu coi bài thơ như một tòa lâu đài thì cấu tứ trước hết là chiếc chìa khóa (nhan đề), là sự sắp xếp các phòng ốc một cách logic và thẩm mĩ (mạch cảm xúc). Nhan đề “Nắng tươi” ngắn gọn, với kết hợp từ mới lạ đã hé mở chủ đề chính của bài: thế giới thiên nhiên và con người tươi đẹp, tình tử khi xuân về.
Hình tượng nắng xuân là hình tượng chính trong bài thơ. Mở đầu bài thơ là sự xuất hiện của nắng xuân từ trên cao, được đánh dấu bằng nét thay đổi của thiên nhiên: trên đỉnh đồi cao không còn phủ mây hờ. Cả đất trời được tắm trong ánh nắng mới tinh khôi của khoảnh khắc giao mùa. Nắng được miêu tả như một nàng thiếu nữ tươi trẻ, tràn đầy sức sống, dịu dàng, e ấp mà đầy tình tứ. Bước sang khổ thơ thứ hai, hình ảnh thiếu nữ hiện lên trẻ trung, tươi đẹp, rạo rực xuân tình trong ánh nắng xuân. Đôi môi tươi, cặp má hồng của thiếu nữ như được nắng nhuộm thêm thắm, thêm tình. Và Khổ thơ cuối tập trung vào cảm xúc của nhân vật trữ tình. Lá non tơ mơn mởn xuân khẽ sột soạt, rung rinh trong làn nắng làm thi nhân ngỡ như vạt áo hường thiếu nữ mặc ngày xuân. Để rồi từ đó dấy lên niềm yêu da diết. Cảnh và người đều tràn ngập sắc xuân, sức xuân và tình xuân trong làn nắng xuân.
Bàn về sứ mệnh của thơ ca, Lưu Quang Vũ đã từng không thôi trăn trở: “Mỗi bài thơ của chúng ta/ Phải như một ô cửa/ Mở tới tình yêu”. Quả vậy, mỗi bài thơ luôn hé mở một con đường để dẫn dắt người đọc được phiêu du đến một thế giới cuộc sống tươi đẹp. “Nắng tươi” đã dẫn dụ độc giả đến một không gian nắng xuân trong trẻo, tươi mới, tràn đầy sức sống:
“Mây hờ không phủ đồi cao nữa,
Vì cả trời xuân tắm nắng tươi…
Hơi nắng dịu dàng đầy nũng nịu,
Sau rào, khẽ liếm cặp môi tươi…”
Đo đếm độ “mới” của vạt áo nắng theo kiểu Lưu Trọng Lư đã là lạ nhưng đo độ “tươi” của nắng thì xưa nay chưa có ai. Nắng tươi là nắng giòn, nắng cười, nắng ngon hay nắng trẻ, có lẽ ngần đó vẫn chưa đủ. Chỉ biết rằng, “nắng tươi” định vị một định nghĩa mới về nắng, mang phong cách độc lạ của Hàn Mặc Tử. Vị được nhìn dưới đôi mắt của kẻ si tình nên nắng cũng khác lạ, nắng trẻ trung, tình tứ như người con gái đang tuổi xuân thì “nắng dịu công đầy nũng nịu”, “Khẽ liếm cặp mội tươi”. Nghệ thuật nhân hóa làm nắng rời, sinh động, có hồn người. Nắng được miều tả như một nàng thơ kiều diễm.
Mỗi tác phẩm như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhòa đi. Ánh sáng riêng lấp lánh trong mỗi vần thơ của “Nắng tươi” có lẽ được tỏa ra từ hình ảnh nắng xuân.
“Môi tươi thiếu nữ vừa trang điểm,
Nắng mới âm thầm ước kết hôn,
Đưa má hồng đào cho nắng nhuộm,
Tình thay! Một vẻ ngọt và ngon…”
Từ cảnh xuân đã chuyển thành tình xuân, nắng đẹp, thiếu nữ trẻ trung, tình chín đỏ “ước kết hôn”. Từ thiên nhiên đến con người đều đạt đến độ đẹp nhất “má hồng đào”, “ngọt và ngon”.
Xưa nay, “nghệ thuật chỉ làm nên những vần thơ khéo léo, còn trái tim mới làm nên tác phẩm thi ca”. Những gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đến đích mà nó cần đến. Thật vậy, đích cuối cùng của “Nắng tươi” có lẽ là mượn hình ảnh nắng xuân để khơi gợi khát khao yêu đương của con người:
“Lá xuân sột soạt trong làn nắng,
Ta ngỡ, em ơi, vạt áo hường.
Thứ áo ngày xuân em mới mặc,
Lòng ta rộn rã nỗi yêu thương…”
Khép lại tòa lâu đài thơ, nhân vật trữ tình khóa lại dòng cảm xúc và cất kín chiếc chìa khóa đâu đó thật sâu trong trái tim yêu cháy bỏng. Lá non tơ mơn mởn, xuân khế sột soạt, rung rinh trong làn nắng làm thi nhân ngỡ như vạt áo hường thiếu nữ mặc ngày xuân. Để rồi từ đó dấy lên niềm yêu da diết. Cảnh và người đều tràn ngập sắc xuân, sức xuân và tình xuân trong làn năng xuân.
Cùng viết đề tài mùa xuân, nếu Nguyễn Bính nhấn vào sắc xanh của mùa xuân (Mùa xuân xanh), thì Hàn Mặc Tử lại tập trung miêu tả sắc hồng của nắng xuân qua vẻ đẹp của đôi môi, gò má thiếu nữ. Lưu Trọng Lư lại sử dụng hình ảnh “Nắng mới” để nói về ánh nắng xuân gợi nhớ đến những kỉ niệm ấu thơ gắn với hình ảnh người mẹ. Còn Hàn Mặc Tử lại miêu tả vẻ tươi của nắng, cái trẻ trung mơn mởn xuân tình của nắng xuân làm dậy lên khao khát tình yêu trong lòng người, trong lòng người thiếu nữ “âm thầm ước kết hôn” cũng như trong lòng chàng trai “rộn rã nỗi yêu thương”.
“Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ. Mỗi chữ phải là hạt ngọc buông xuống bản thảo. Hạt ngọc mới nhất của mình tìm được do phong cách riêng của mình mà có”. “Nắng tươi” bằng tất cả những đặc sắc về nội dụng và nghệ thuật đã trở thành những vần thơ mang gương mặt, diện mạo đặc trưng cho thơ Hàn thi sĩ. Một bài thơ gieo vào trái tim nhiều cảm xúc nhưng cảm xúc chính là tình yêu đẹp đẽ, mãnh liệt, say mê dành cho thiên nhiên và con người trong khoảnh khắc mùa xuân. Để tạo ấn tượng đặc biệt, Hàn Mặc Tử sử dụng trong thi phẩm của mình đồng thời cả 2 lớp ngôn từ: vừa trau chuốt, bóng bẩy (nắng tươi, lá xuân…) lại vừa dân dã, tự nhiên (liếm). Nhưng tất cả đều ẩn chứa sức gợi cảm rất lớn của ngôn từ. Hệ thống từ láy đã mang lại hiệu quả nghệ thuật cao cho tác phẩm. Biện pháp nhân hóa tạo nên hình tượng nắng sống động trong bài thơ, chứa chan tình xuân phơi phới. Câu cảm thán được đặt vào giữa bài thơ
“Tình thay!” thể hiện cảm xúc dâng trào của thi nhân trước vẻ tình tứ của mùa xuân.
Xuân thắm tươi dẫu khởi đầu tươi mới, theo thời gian cũng quay xong cái vòng xoay của nó; con thuyền rời bến đậu dẫu đi chậm, theo hành trình cũng ngắn dần những dặm hải trình. Hàn Mặc Tử- ngôi sao băng xoẹt qua bầu trời thi ca Việt để lại cho nền văn học Việt Nam một đời thơ giá trị. Thật đúng như nhà thơ
Chế Lan Viên đã nhận định: “Mai sau, những cái tâm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, còn lại chút gì trên đời này đáng kể, đó chính là Hàn Mặc Tử”. Cấu tứ độc đáo, hình ảnh đặc sắc đã làm nên một thi phẩm “Nắng tươi” in đậm dấu ấn trong tâm hồn người đọc.
(Chu Thị Phương Thảo- K62, THPT Xuân Trường, Nam Định)

























Thảo luận về bài viết này