💖HocVan.Edu.Vn
  • Trang chủ
  • Học văn THCS
    • Học tốt Ngữ văn 6
    • Học tốt Ngữ văn 7
    • Học tốt Ngữ văn 8
    • Học tốt Ngữ văn 9
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
  • Học văn THPT
    • Học tốt Ngữ văn 10
    • Học tốt Ngữ văn 11
    • Học tốt Ngữ văn 12
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
Không tìm thấy
View All Result
💖HocVan.Edu.Vn
  • Trang chủ
  • Học văn THCS
    • Học tốt Ngữ văn 6
    • Học tốt Ngữ văn 7
    • Học tốt Ngữ văn 8
    • Học tốt Ngữ văn 9
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
  • Học văn THPT
    • Học tốt Ngữ văn 10
    • Học tốt Ngữ văn 11
    • Học tốt Ngữ văn 12
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
Không tìm thấy
View All Result
💖HocVan.Edu.Vn
Không tìm thấy
View All Result

Những tác phẩm siêu việt bao giờ cũng làm bất hủ nỗi thống khổ của con người

in Bài văn học sinh giỏi
0 0
0
Những tác phẩm siêu việt bao giờ cũng làm bất hủ nỗi thống khổ của con người

Những tác phẩm siêu việt bao giờ cũng làm bất hủ nỗi thống khổ của con người

Pablo Neruda đã để lại từng hồi day dứt trong những vần thơ:
“Bạn sẽ hỏi sao thơ tôi
Không nói đến mộng mơ, hoa lá
Không nói đến những núi lửa hùng vĩ
Của đất nước quê hương?
Hãy đến xem máu chảy trên đường
Hãy đến xem
Máu chảy trên đường
Hãy đến xem máu chảy
Trên đường!”

Từng âm vang cất lên đau đáu lòng người, cũng chính là câu trả lời của văn chương khi người ta cứ thắc mắc nghệ thuật sao cứ luôn mang một nỗi quan hoài u ám về con người. Biết tìm đâu những vần thơ bay bổng lãng mạn mặc kệ tiếng tan u uất của nhân loại, kiếm đâu ra những trang văn chỉ có mây và gió khi con người còn đang giày vò đau đớn trong cơn sóng của nỗi lo cuộc đời? Có lẽ bởi vậy nên Vôn-te mới nói: “Những tác phẩm siêu việt bao giờ cũng làm bất hủ nỗi thống khổ của con người”.

Nhận định trên của Vonte là một lời chiêm nghiệm xác đáng của cả một quá trình nghiên cứu văn chương và trải nghiệm cuộc đời, trở thành chân lí của nghệ thuật – hay đúng hơn là nghệ thuật vị nhân sinh. “Siêu việt” là mức độ vượt lên trên mọi lẽ thông thường, bứt phá khỏi ranh giới – đặc biệt và tỏa sáng vô cùng. “Một tác phẩm siêu việt” chính là một tác phẩm nghệ thuật chân chính mang giá trị lớn lao và sâu sắc, “vượt lên trên mọi bờ cõi và giới hạn”, là kết tinh của bao điều quý giá, cao cả. Đó chính là những tác phẩm “làm bất hủ nỗi thống khổ của con người” – là làm cho nỗi đau khổ, xót xa của con người âm vang đến muôn đời. Vậy nhận định trên của Vôn te đã khẳng định: Một tác phẩm văn chương chân chính, có giá trị phải mang trong đó mối đồng cảm, nỗi đau đớn, niềm trăn trở của trái tim nghệ sĩ trước nỗi thống khổ của con người, đồng thời cũng đề cập đến khả năng nhân đạo hóa của văn chương, tinh thần nhân đạo – phẩm chất bắt buộc phải có trong mỗi người cầm bút.

Grandi từng khẳng định: “Không có nghệ thuật nào là không hiện thực”. Và cuộc sống là nơi bắt đầu cũng là nơi đi tới của văn chương. Hơn bất cứ một lĩnh vực hay một loại hình nghệ thuật nào, văn học gắn chặt với hiện thực cuộc sống và lấy cuộc đời làm nghiên mực chắp lên những nét tài hoa trên trang viết của người nghệ sĩ. Như ai đó đã từng ví văn học và cuộc sống như thần Ăng Tê và Đất mẹ. Thần trở nên vô địch với sức mạnh khôn cùng chỉ khi hai chân đặt trên Đất mẹ cũng như văn chương chỉ thực sự mang sức mạnh, mang ý nghĩa cao cả khi gắn liền với hiện thực đời sống. Đầu tiên và trên hết, văn chương đòi hỏi ở tác phẩm nghệ thuật chất hiện thực. Bởi vậy, để sáng tạo nên một tác phẩm “siêu việt”, người nghệ sĩ cần phải bám vào hiện thực, lấy hương đời để nên trang viết. Mà “đời là bể khổ”, con người trong cuộc sống có bao giờ hết đau thương? Chẳng phải là những câu từ sáo rỗng vịnh cảnh phong hoa tuyết nguyệt, văn chương phải là chất màu, chất máu sinh ra từ những va chạm của tâm hồn với bộn bề hiện thực, là tiếng đồng vọng mãnh liệt từ những tâm hồn khổ đau.

Nguyễn Minh Châu đã từng nói: “Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm chính là con người”. Trái tim người nghệ sĩ phải mang chở cái tình thật nặng sâu với buồn vui của nhân thế. Không ai có thể vết nên trang trong trạng thái khô cằn, sạn chai xúc cảm. Những xúc cảm trong văn thơ không nên và không phải sự thúc đẩy ép buộc của ý thức, nằm thẳng đơ cứng đờ trên trang giấy mà mang nặng nỗi niềm nghệ sĩ với khát khao được cất lên âm vang bị thương của con người còn đang khăn khó. Cảm hứng sáng tạo của tác giả hoàn toàn có thể bắt nguồn từ niềm vui sướng hay tự hào, tin tưởng hoặc phấn khởi, vậy nhưng văn chương chân chính chẳng bao giờ là sản phẩm của một tâm hồn chỉ chứa đựng những niềm vui hời hợt, giản đơn. Bởi cuộc sống con người nằm trong tính hiện thực của nó, niềm vui luôn đi đôi với nỗi buồn, ánh sáng luôn song hành cùng bóng tối, giống như không hạnh phúc nào có được mà không phải trả giá bằng bất hạnh, khổ đau… Và phải nói rằng chính những khổ đau của con người xưa nay mới thực là nỗi nhức nhối, trăn trở nhất thôi thúc người nghệ sĩ cầm bút mà viết nên trang.

Kiệt tác “Truyện Kiều” có lẽ chính là một tác phẩm “siêu việt”, “vượt qua mọi bờ cõi và giới hạn”, thách thức sự băng hoại của thời gian để trở nên bất hủ trong lòng mỗi người. Bởi lẽ, Nguyễn Du đã cất lên tiếng khóc thương cho thân phận của người con gái hồng nhan bạc phận, khóc cho thân Kiều. Nhà thơ đã viết tác phẩm bằng tất cả huyết lệ, khắc họa lại cuộc đời nàng Kiều với những nỗi tâm tư, xúc cảm đau đáu nhất của mình, như “có máu rỏ trên đầu ngọn bút”- máu chảy vì đớn đau, “nước mắt thấm qua tờ giấy”- giọt nước mắt ngậm ngùi thương cảm cho thân người, phận mình. 3254 câu thơ của “truyện Kiều” như vạn lần suy tư, ngẫm nghĩ về cuộc đời, về thân phận người phụ nữ. Từng câu từng chữ, từng nỗi đau thấu trời, từng lần máu chảy, từng phiên nước mắt, đều khiến chúng ta không khỏi thán phục trước tình cảm nhân văn ấy. Cô đơn, đau đớn trước cuộc đời, bất lực vì nhìn thấy chết mà không thể cứu, Nguyễn Du mang trong mình biết bao nỗi niềm day dứt và người đã giải tỏa nó vào những trang thơ, qua nhân vật của mình.

Những biến cố đau đớn xảy ra liên tục trong cuộc đời của nàng Kiều thể hiện sự thăng trầm ở đời. Ví như, trong tiết thanh minh, khi ra về sau lễ hội “đạp thanh, tảo mộ” nàng gặp mộ Đạm Tiên, tưởng như là một điềm không may, nhưng rồi lại gặp được chàng Kim Trọng với “Phong tư tài mạo tót vời/ Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”, nghĩ nàng đã có được mối lương duyên tốt. Sau đó, tình cảm ngày thêm mặn nồng, thắm thiết, hai người đã kết lời thề ước trăm năm. Thế nhưng, “giữa đường đứt gánh tương tư, trâm gãy bình tan, nước chảy hoa trôi lỡ làng”, nàng phải “trao duyên” lại cho Thuý Vân gánh vác trách nhiệm của người chị cả trong gia đình: “Cậy em em có chịu lời. Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Hết “Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em” lại đến “Xót tình máu mủ thay lời nước non”, bao lời cất ra đều thấm đẫm niềm tiếc nuối khôn cùng. Từ bỏ mối tình, từ bỏ hạnh phúc của bản thân, trao mối tơ duyên cho em gái, hỡi ai mà không đau lòng? Từ giây phút này đây, Kiều đã xác định mình dù là sống nhưng trái tim đã cằn cỗi giữa mảnh đất cuộc đời, đã
hóa đá:

“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.”

Dù đang sống nhưng Kiều đã thật sự thấy mình đã chết, là một người sống với cái xác không hồn. Dù chuyện tình mới nồng nàn như ngày hôm qua lại bị đẩy vào dòng thời gian xa lăng lắc. Kiều có cảm giác mình như trắng tay, sắp sửa bước vào kiếp đoạn trường như giấc mơ gặp Đạm Tiên cùng khúc nhạc “Thiên đàn bạc mệnh” nàng đàn khi xưa. Âm dương cách trở, mặt chẳng thể chạm mặt còn lời thì bị nuốt chửng bởi hư vô, câm lặng hoàn toàn, đủ để thấy nàng Kiều đã phải đớn đau, khổ cùng đến nhường nào. Nỗi đau không cất thành lời ấy của nhân vật phải chăng cũng chính là tiếng lòng đứt từng đoạn của tác gia, một “Tiếng kêu mới đứt ruột” đã từng trải, từng thấu, như nỗi đau của chính mình?

Bán mình cứu cha, Kiều trở thành một món hàng không hơn, không kém trong mắt những kẻ như Mã Giám Sinh, Tú Bà, Kiều là một món hàng với những “cò kè”, những “ngã giá”, trong mắt những kẻ vô học “ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, buôn thịt người để chúng tha hồ:

“Có kè bớt một thêm hai
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm”

Nỗi thống khổ của con người tưởng chừng như đến đỉnh điểm, nhưng nỗi đau đớn khi từ trên cao rơi xuống vực thẳm lại làm cho phận Kiều thêm khốn đốn. Được cứu ra xong lại quay về, “Thanh y hai lượt thanh lâu hai lần” khiến Kiều rơi vào tuyệt vọng. Bị đẩy vào chốn lầu xanh lần thứ hai, nhân phẩm của nàng lại bị dày vò, vấy bẩn lần nữa khiến cho nàng cũng phải cất tiếng đay nghiến trước thực trạng phũ phàng, cuộc sống bị cầm tù trong một vòng tròn luẩn quẩn không lối thoát :
“Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm
Dập dìu lá gió cành chim
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh.”

Tính trùng điệp của câu thơ đã gợi ra một nhịp sống triền miên, hoang lạc đàng điểm, trong đó ẩn chứa nỗi ngao ngán, ê chề. Cứ đọc lên, qua âm vang của tất cả ta sẽ thấy toát lên một bầu không khí giao đãi phù hoa, một cuộc sống truy hoan phù phiếm ngập cả không gian và thời gian. Đó chính là lời của Nguyễn Du nói về cảnh sống chốn lầu xanh hay chính là lời của Thúy Kiều đang nói về đời sống ê chề, nhục nhã của mình? Có lẽ Tố Như đã hóa thân vào Kiều mà cất lên những lời đau đớn ấy. Ẩn sâu trong “trận cười suốt đêm” đó là cõi lòng rớm lệ của Kiều. Nỗi lòng hiện ra với hàng loạt những câu hỏi nghi vấn:

“Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương?
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!”

Nàng đối chiếu hiện tại với quá khứ trinh bạch mà đớn đau xót xa. Trước hoa tiên phong nhụy là thế, lá ngọc cành vàng là thế, mà bây giờ tan tác như một món hàng cũ rách, bị người đời giẫm đạp không thương tiếc. Với một người con gái trong sáng và có nhân phẩm cao khiết như Kiều, có lẽ đó là một nỗi đau thấu tận tâm can, là cực hình lớn nhất trần gian. Dường như, nó không còn là một điệp khúc dai dẳng, đay đả nữa mà nỗi lòng ấy cất lên như một nhát dao cứa vào trái tim đau khổ ấy. Có thể nói, cuộc đời Kiều là một chuỗi những điều đau khổ của một vận mệnh đầy bi kịch. Vận mệnh ấy đã khiến nàng trở thành con người đáng thương nhất của “truyền Kiều”. Có lẽ vận mệnh ấy ngay từ đầu đã sắp đặt theo đuổi nàng bởi tài hoa và nhan sắc của nàng quá xuất chúng. Như Nguyễn Du đến cuối cùng cũng phải thốt lên một câu đau đớn rằng: “Có tài mà cậy chi tài/ Chữ tài liền với chữ tai một vần” Nguyễn Du đã khóc cho phận đời đầy bi oan và ngang trái của Thúy Kiều. Một tiếng khóc mới, đầy da diết, cảm thông và thương xót. Đó chính là tấm lòng nhân hậu tuyệt đẹp ẩn sâu trong trái tim Tổ Như- một người có hùng tâm tráng chí nhưng vì sinh bất phùng thời mà cuộc đời trở nên cô đơn, đơn điệu. Không đau đớn cõi lòng trước phận người nhỏ nhoi trong dòng vần xoay nghiệt ngã của xã hội phong kiến, không nhỏ lệ trước bao kiếp sống “tài hoa bạc mệnh”, liệu Nguyễn Du có thể viết nên kiệt tác “Truyện Kiều”, và liệu “Truyện Kiều” có trở nên bất hủ hay không?

Có người từng nói: “Trái Đất nứt ra làm đôi, vết nứt ấy xuyên qua trái tim thi sĩ”. Người cầm bút lấy những vết nứt trong tâm hồn con người, lấy những đau thương mất mát, lấy những vết thương chưa lành để tạo nên kiệt tác. Người nghệ sĩ làm “bất hủ nỗi thống khổ của con người” bằng cách thu vào lòng mình mọi nỗi bất hạnh và nước mắt của thế gian, nâng nỗi niềm riêng của một kiếp người lên tầm phổ quát – tiếng thơ, tiếng văn hay cũng là tiếng than, tiếng thương, tiếng xót, tiếng oán trách, căm hờn thay cho cái khổ đau của muôn người mà vang mãi tới muôn đời. Khi con người ta còn đau đớn bi ai, thì văn chương vẫn còn, vẫn sẽ mãi ở đó để cất lên nỗi niềm của con người. Thiếu đi tính nhân văn trong tác phẩm, xa lạ với bao “nỗi thống khổ của con người”, chẳng quặn đau tấc lòng trước nhân tình thế thái, văn chương tức khắc trở nên hời hợt, vô nghĩa khi chỉ đủ gợi những “tình cảm rất nhẹ, rất nông”, không bao giờ được nâng tới tầm
“siêu việt”.

Và cõ lẽ, nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao với cái danh “hiện thân khốn cùng nhất của những người nông dân Trước Cách mạng tháng 8” cùng nỗi thống khổ bi ai đến tột cùng chính là nguyên nhân tác phẩm của Nam Cao vươn đến tầm “siêu việt”. Chí Phèo từng là một người nông dân hiền lành, chất phác, lương thiện. Trong bộ dạng trần truồng, xám xịt ở cái lò gạch cũ, Chí cứ từng ngày lớn lên bằng cách truyền tay nhau của người làng, lúc thì anh bị đem cho, khi thì bị đem bán… nhưng Chí vẫn là một anh canh điền hiền lành, chất phác, giàu lòng tự trọng, có ước mơ giản dị, chân thành về một cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Nhưng “thói đời cơ cực” lại thường hay “giơ vuốt”, con người tốt tính đến đâu nếu không tự mình gian trá, lọc lừa mà sống trong hoàn cảnh ấy thì cũng sẽ bị nó xô cuốn đi mà vùi, mà dập cho đến khi còn chẳng nhận ra là người. Ở cái thời đại ấy, có mấy ai lương thiện mà được sống yên ổn, nhất là khi Chí còn phải chịu đựng cơn ghen ai oán của Lí Kiến. Cơn ghen ấy trở thành hiểm họa, bàn đạp để đẩy Chí lao vào guồng quay của sự tha hóa. Bước ngoặt đến với Chí khi anh hai mươi tuổi, Bá Kiến đẩy anh vào tù – nơi đã xác định rõ bước đường cùng của Chí. Sau khi ra tù, Chí dần dần có những hành động mất hết nhân tính, trở thành tên tay sai đắc lực gây nên bao tai họa cho người dân. Cuộc đời của Chí giờ đây đắm chìm trong những cơn say triền miên, những cuộc chửi bới, chém giết. Hắn đã đốt phá bao nhiêu cơ nghiệp làm chảy máu và nước mắt của biết bao người dân lương thiện, hủy hoại cuộc sống của họ và chính mình. Chẳng biết tự lúc nào Chí đã bán linh hồn cho quỷ dữ. Từ việc bị đẩy nhưng rồi Chí tự trượt dài trên cái dốc của sự tha hóa. Chí mất hết tính người và người làng Vũ Đại cũng chẳng ai coi Chí là người. Chí trở thành Chí Phèo – một phần thừa thãi, bỏ đi của xã hội. Vậy nên những gì Chí Phèo làm ngay từ khi mở đầu tác phẩm đó là chửi nhưng cũng chẳng ai thèm đáp trả. Tiếng hắn chửi cũng chỉ như tiếng những con vật bình thường của cuộc sống, chẳng ai buồn nghe, buồn đáp lại: “Chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn, chửi mẹ đứa nào đã đẻ ra thân hắn. Tiếng chửi không có lời đáp lại tức là Chí chửi đổng, chửi vu vơ.” Đó cũng là lúc Chí đã hoàn toàn rơi xuống vực sâu của sự tha hóa. Nỗi cô độc tuyệt cùng ấy Chí không thể giải tỏa được cùng ai, Chí đã bị đẩy ra khỏi thế giới loài người, ra ngoài rìa của xã hội. Chân dung Chí Phèo chính là hiện thân cho nỗi thống khổ lớn nhất của người nông dân trong xã hội lúc bây giờ, khi chính con đường sống, những khát khao trong sáng nhất của con người bị vùi dập không thương tiếc, chính nhân cách của mình bị kẻ khác dẫm đạp trở nên méo mó, tàn bạo. Sự thống khổ của Chí Phèo càng được đẩy lên đỉnh điểm khi hành trình trở về với lương thiện của Chí bị chặn đứng, bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người dày vò, giằng xé nội tâm hắn đến đau đớn khôn nguôi. Hắn thèm khát vô cùng cái cảm giác được
trở về thế giới của con người, cái phần người ấy gào thét muốn bứt khỏi hình hài của quỷ dữ sau khi gặp được Thị Nở. Chí rõ ràng đã “sợ rượu”, “lòng mơ hồ buồn”, “nhận ra một tiếng lời răn náo nức” kia mà. Hắn đã trở lại với những ước mơ giản dị “một gia đình nhỏ, chồng cuốc mướn, vợ cày thuê”, trở lại với bản chất lương thiện ngày xưa rồi ấy chứ? Bát cháo hành của Thị đã cứu lấy thân xác tàn tạ của hắn, khiến hắn khóc – lặng lẽ, kín đáo; khóc mà không nhận ra sự chuyển hoá âm thầm trong đời mình. Từ một con mắt của quỷ dữ, chỉ nhìn đời bằng sự ráo hoảnh, căm thù; đôi mắt của hắn đã biết khóc, biết chảy nước mắt vì hơi ấm tình thân, tình người ấm nóng. Nhưng giọt nước mắt ấy của hắn có ai thấu chăng, hay chính những sai lầm trước kia của Chí to lớn đến mức không thể tha thứ mà cánh cửa quay trở về với cuộc sống lương thiện vừa hé mở, ngay lập tức bị đóng sầm lại ngay trước con mắt của hắn. Bà cô Thị Nở đã thay lời cả làng Vũ Đại khước từ sự quay đầu của Chí Phèo, chặt đứt con đường sống của hắn. Thị Nở khước từ Chí, để lại con thú dữ đang muốn quay đầu với một đống ngổn ngang những suy nghĩ. Chí nhận ra bi kịch của cuộc đời mình, Chí thấy đau đớn xiết bao khi nghe “thoang thoảng mùi cháo hành”. Đó chính là hương vị của tình yêu, tình người cứ vương vấn, ám ảnh khôn nguôi, càng nhấn sâu vào bi kịch và niềm khao khát yêu thương của Chí. Đau đớn tột cùng, hắn “ôm mặt khóc rưng rức”. Hắn khóc thật rồi, khóc vì một người đàn bà “xấu ma chê quỷ hơn” hay là khóc khi chẳng ai chấp nhận hắn nữa? Ta vẫn ám ảnh không thôi giây phút hắn chạy theo thị Nở và nắm lấy tay thị nhưng rồi bị gạt ra và giúi cho thêm một cái. Ấy là lần duy nhất hắn níu kéo một mối quan hệ, cũng là giây phút thảng thốt, chới với của một sinh linh đáng thương biết mình đã bị ruồng bỏ. Tất cả những suy nghĩ, giày vò, trăn trở của Chí đều thực đến đáng thương. Dường như nhà văn đã thâm nhập vào tận sâu trái tim và tâm hồn của Chí Phèo, cất lên những thanh âm tột cùng đau đớn nhất của một trái tim rỉ máu, trái tim bị phản bội đến đáng thương. Đến cuối cùng, Chí vung dao đâm chết Bá Kiến – nguyên nhân gây nên bi kịch của đời mình. Rồi cũng bằng con dao vấy máu đó, hắn đã tự vẫn, kết thúc một cuộc đời bi kịch. Cái chết của Chí Phèo là tiếng chuông cảnh tỉnh cả một xã hội đầy rẫy định kiến, thiếu tình nhân hậu, bao dung, vừa đẩy người ta đến chỗ tột cùng không lối thoát vừa không cho người ta cái cơ hội trở lại làm người. Đó là bi kịch về quyền được sống lương thiện, bi kịch về lòng nhân ái…

Cùng trong những năm 30-45 đầy khó khăn của dân tộc, những nhà thơ Mới cũng mang trong tim nỗi đau của riêng mình, mang những nỗi u sầu lạc lõng với niềm đau cô độc. Những năm 30 của thế kỉ 20, đất nước ta rơi vào hỗn loạn đến cùng cực. Những người dân thành thị chịu ảnh hưởng trực tiếp từ lối sống, văn hóa Phương Tây, đâu đâu cũng thấy người ta mặc quần áo theo Tây, đi xe Tây, ở nhà theo phong cách Tây, bắt đầu có những suy nghĩ khác mà đa phần là sự băng hoại đạo đức và nhân phẩm với lối sống của xã hội lai căng. Còn ở những vùng nông thôn, nông dân nghèo thì vẫn nghèo, đói thì vẫn đói, khổ thì vẫn khổ, bị đày đọa, áp bức bởi tầng lớp thống trị. Đứng trước thảm cảnh như vậy, các thi nhân hầu hết đều cô đơn đau sầu, trong đó có nhà thơ Huy Cận – kẻ ôm nỗi buồn vạn cổ. Huy Cận mang trong mình cái tôi u sầu, “buồn thiên thư”, chắt từ tận tâm can mình những âm thơ day dứt:

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.”
(Tràng Giang – Huy Cận)

Đoạn thơ không hề có một chữ buồn nhưng người đọc vẫn cảm nhận được có một nỗi buồn rất sâu, rất ghê gớm. Nỗi buồn đó
bủa vây thi sĩ khiến cho Huy Cận nhìn đâu cũng thấy cảnh chia lìa, tan tác. “Chỗ dừng chân” của nhà thơ trong giai đoạn này lúc nào cũng là cảm xúc cô đơn, lạc lõng và u sầu.

Nỗi thống khổ, xót xa ấy còn là niềm tiếc nuối khôn nguôi của một trái tim khao khát yêu và được yêu:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?..”

Câu thơ đau đáu một nỗi niềm mong đợi, một tia hi vọng mong manh trong sự tuyệt vọng đến quặn lòng của thi nhân. Liệu rồi con thuyền chở đầy trăng ấy có neo đậu được bến bờ ước vọng và liệu rồi tình yêu thiết tha nồng hậu của thi nhân có tìm được ai chia sẻ? Con thuyền ấy có kịp chở về những hẹn hò, mong nhớ, những đợi chờ khắc khoải mà thi nhân muốn gửi gắm đến người con gái mình yêu? Câu thơ cứ như xoáy vào hồn ta đau đáu một nỗi niềm! Có lẽ những vần thơ khắc khoải ấy đã thoát thai từ một trái tim yêu đang tuyệt vọng không cùng của thi nhân.

Những giây phút ấy, Hàn Mặc Tử đã “vắt kiệt” bao đau đớn, bao mong nhớ, bao yêu thương tha thiết của mình để dâng
cho đời những vần thơ làm xao lòng người đến vậy!

Có thể thấy, dù nỗi thống khổ của con người xuất phát từ chủ quan hay khách quan, từ ngoại cảnh hay tâm hồn thì văn chương cũng làm cho niềm đau ấy thêm đẹp đẽ và cao cả hơn. Văn chương giống như một đóa hoa kiều diễm được nảy nở từ những hỷ nộ ái ố của con người. Nỗi đau đớn của nhân loại xuất hiện trong văn thơ, trong trang viết như đang làm đẹp hơn tấm lòng của người nghệ sĩ, như đang tô thắm hơn ý nghĩa cao đẹp của nghề văn, của nghề viết. Khi nhà thơ, nhà văn viết về nỗi thống khổ của con người, làm nỗi đau ấy bất hủ mãi in hằn trong tâm trí chính là khi giá trị nhân đạo cao cả của văn chương rực sáng nhất, khi ý nghĩa của nghệ thuật vị nhân sinh được khẳng định và trở nên cao quý vô ngần, giống như Đặng Tiến đã từng nói: “Nghệ thuật tạo vẻ đẹp cho những dòng nước mắt, và biến nỗi thống khổ của nhân loại thành tiếng hát vô biên”. Rời xa cái ống kính vĩ mô, soi xét các vấn đề mang khuynh hướng sử thi của thời kỳ kháng chiến, Nguyễn Minh Châu – người mở đường rực rỡ chuyển hướng ngòi bút của mình đến những trăn trở vi mô trong cuộc sống thường nhật thời hậu chiến. Sau chiến tranh hòa bình lặp lại, những tưởng cuộc sống bình yên sẽ mở ra nhưng cái sự thực nghịch lý mà nhân vật Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” nhận ra là minh chứng thép cho những đau đớn, khó khăn không chỉ trong cuộc sống “cơm áo gạo tiền” mà nó còn là những di chứng của chiến tranh. Trong “Chiếc thuyền ngoài xa”, ai cũng có nỗi khổ của riêng mình, những nỗi đau tưởng chừng nhỏ bé thường gặp lại day dứt bao con người. Người đàn ông vũ phu – đáng trách nhưng cũng bởi cái tình cảnh khốn cùng đến bế tắc đã đè nặng lên bờ vai, khối thịt vốn đã không thể đen hơn, rám nắng hơn trong sự vật lộn với biển khơi của người đàn ông vùng biển. Một người đàn bà hàng chài xấu xí, thô kệch, dẫu có bị đánh đập dã man cũng không chịu rơi nước mắt buông tay cho đến khi chứng kiến đứa con mình vì bảo vệ mẹ mà đánh cả cha nó, cũng bởi người phụ nữ ấy thương cho đứa con của mình. Dòng nước mắt còn là biểu hiện cho nỗi đau đớn của người vợ, người mẹ đáng thương ấy. Bà là nạn nhân của đói nghèo và tình trạng bạo lực gia đình: cái xấu đã đeo đuổi bà như một định mệnh, trận đậu mùa quái ác đã để lại những nốt rỗ chằng chịt trên khuôn mặt. Từ khi lấy chồng, bà gắn đời mình với sông nước. Cuộc sống nghèo khổ, thuyền chật con đông: “nhiều lần biển động phải ăn xương rồng luộc chấm muối”. Vì túng quẫn, đói nghèo, thất học, lạc hậu… lão chồng của bà từ một anh con trai “hiền lành” đã trở thành một kẻ vũ phu thô bạo. Gia cảnh nghèo khó bế tắc. Cuộc sống đầy tình trạng bạo lực gia đình không lối thoát càng làm cho “dòng nước mắt” ấy thêm đắng cay, nghiệt ngã. Rồi một gia đình cả chục đứa con bị dằn vặt bởi cái đói, cái nghèo. Đọc và ngẫm “Chiếc thuyền ngoài xa, ta càng thấm thía hơn câu nói: “Khi nhìn về biển cả, người ta nghĩ đến sự rộng lớn vô biên, tự do bất tận, nhưng với những người dân thực sự sống bám biển, họ lại bị trói chặt trên chính con thuyền, trong chính cuộc sống của mình”.

Nỗi đau đớn của con người vẫn tiếp nối với câu hỏi: “Sao tôi cứ mãi lạc loài”, đó là sự trăn trở, day dứt trong tâm hồn ông Thuấn – vị tướng về hưu trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Huy Thiệp. Rèn luyện trong quân đội, ông có một lối sống trong sạch, ngay thẳng, không vụ lợi. Thế nhưng, khi giã từ con đường binh nghiệp để trở về cuộc sống đời thường, ông phải đối mặt với bao nhiêu bộn bề, ngang trái. Ông không hòa hợp với cái lạnh lùng của lối sống thực dụng. Cuộc sống không còn chỗ cho ông, ông trở thành người thừa, xa lạ với chính những người thân trong gia đình. Một khối cô đơn khổng lồ đè nặng lên tâm hồn vị tướng của một thời lửa đạn. Ông khóc khi chứng kiến các nhau thai nhi trong nồi cám “Khốn nạn, tao không cần sự giàu có này”. Ông luống cuống, khổ sở trong một đám cưới ngoại ô lố lăng và dung tục. Ông ngán ngẩm trước việc đứa con dâu ngoại tình. Ông nhận ra một sự thật cay đắng rằng “Đàn ông thằng nào có tâm thì nhục…. tâm càng lớn càng nhục”. Sự cô đơn, lạc lõng của ông Thuấn xuất phát từ sự mâu thuẫn của lí tưởng cao đẹp một thời và sự thật trần trụi của một thời khác. Một người như ông, từng được đặt trong “bầu không khí vô trùng” của thời trước chắc chắn không đủ sức đề kháng để đối chọi với sự thật của thời này. Đó chính là bi kịch của sự cô đơn, lạc lõng khi không thể hòa nhập với thực tại xã hội ngang trái của người lính về hưu.

Lang thang trên các trang sách của văn chương thế giới, ta cũng khó lòng kìm nén nỗi đau trước sự thực ở đời. Ta bắt gặp
một cô bé bán diêm cô đơn bên góc tối của đêm Giáng Sinh với những niềm ước trong sáng nhỏ nhoi nhưng rồi phải giã từ cõi đời bởi sự vô cảm của cha và những người xung quanh trong truyện ngắn của Andersen. Ta bắt gặp hình ảnh lão Goriot khốn khổ cả đời vì con nhưng rồi cũng chết trong đơn độc, chỉ nhận được giọt nước mắt thương vay khóc mướn của một người không cùng máu thịt trong bộ “Tấn trò đời” của kẻ ôm nỗi đau của những giấc mộng phù phiếm nơi Paris hoa lệ – Balzac. Rồi ta thấy những vần thơ đầy nuối tiếc, xót xa khi tình yêu tan vỡ của nữ thi sĩ Olga Berggoltz trong “Mùa lá rụng”. Hay “tiếng vượn hú não nề”, “nằm bấp bênh giữa cuộc lãng du” đầy trăn trở trong thơ Haiku. Tất cả đều là những trang văn, tờ hoa “siêu việt” cất lên từ nỗi đau đớn, niềm thương cảm chân thành cùng tinh thần nhân đạo sâu sắc của người nghệ sĩ, của những con người nhạy cảm và đau nỗi đau đời.

Tuy nhiên, nếu nhìn vấn đề ở nhiều góc cạnh, ta cũng phải hiểu rằng, không phải bất cứ tác phẩm văn học nào chỉ thuần
“làm bất hủ nỗi thống khổ của con người” cũng được gọi là “siêu việt”, là tuyệt tác. Cái nội dung tư tưởng lớn lao, cao cả kia luôn phải được thể hiện dưới một hình thức phù hợp, mới lạ và độc đáo, cô đọng, hàm súc để văn chương có khả năng tác động tới cả lí trí lẫn tình cảm của con người. Cái “hay” gắn liền với cái “đẹp” – thơ khi ấy mới thực là viên ngọc toàn bích, như nhà văn: chữ “tâm” phải đi đôi với chữ “tài”. Và người nghệ sĩ cũng không nên mãi chìm đắm trong nỗi đau khổ ấy, cuộc đời còn tiếp diễn là còn tươi đẹp, còn ánh sáng, niềm vui của con người – dù trong một khoảnh khắc nào đó thôi cũng chính là đáng giá. Và người đọc – những người trực tiếp đối thoại với nhà văn, cảm nhận được tình cảm của người nghệ sĩ cũng cần cảm thụ tác phẩm với tình yêu và sự quý mến, trân trọng những “đứa con tinh thần” của tác giả, đồng thời đọc bằng tất cả những khát khao tìm tòi và khám phá.

Có người đã từng nói: “Tiếng ca buồn là tiếng ca hay nhất của thế gian”. Thực vậy, nghệ thuật hay văn chương đều mang một sứ mệnh là cất lên tiếng đau khổ xót xa của con người, lấy hỉ nộ ái ố của cuộc đời là nghiên mực chấp lên con chữ. Một nhà văn chân chính phải bằng tình yêu, lòng nhân đạo của mình cảm nhận các mang mác buồn của thế giới một cách thật tinh tế, trông nhìn và chữa lành những trái tim còn cô đơn, lạc lõng, khi đó một tác phẩm nghệ thuật có giá trị mới ra đời. Giống như chân lí mà nhà văn Vôn-te đã từng nói: “Những tác phẩm siêu việt bao giờ cũng làm bất hủ nỗi thống khổ của con người.”

Chủ đề: Các câu trích dẫn hay trong nghị luận xã hộiNhững câu dẫn dắt hay cho nghị luận văn họcNhững câu nói hay của các nhà văn nổi tiếng về văn họcNhững câu nói hay trong các tác phẩm văn học Việt NamNhững câu nói hay về văn học Việt NamNhững câu trích dẫn hay trong văn học nước ngoàiNhững nhận định văn học hay dùng làm mở bàiTrích dẫn văn học việt nam

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Trên khối đá từ ngữ anh bắt đầu đục đẽo những chữ tượng thanh, những chữ tượng hình
Bài văn học sinh giỏi

Trên khối đá từ ngữ anh bắt đầu đục đẽo những chữ tượng thanh, những chữ tượng hình

Thơ là nữ hoàng nghệ thuật
Bài văn học sinh giỏi

Thơ là nữ hoàng nghệ thuật

Nhà thơ chính là con ong hút nhụy từ những bông hoa của cuộc đời
Bài văn học sinh giỏi

Nhà thơ chính là con ong hút nhụy từ những bông hoa của cuộc đời

Những truyện ngắn hay thường gắn với thơ
Bài văn học sinh giỏi

Những truyện ngắn hay thường gắn với thơ

Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi cuộc sống
Bài văn học sinh giỏi

Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi cuộc sống

Đọc thơ là hành vi thân mật. Lắng nghe nhạc điệu của nhận thức, của lòng mình, là hành động trung tâm của việc đọc thơ
Bài văn học sinh giỏi

Đọc thơ là hành vi thân mật. Lắng nghe nhạc điệu của nhận thức, của lòng mình, là hành động trung tâm của việc đọc thơ

Bài viết mới
20 thông điệp ý nghĩa giúp nâng tầm bài nghị luận xã hội

20 thông điệp ý nghĩa giúp nâng tầm bài nghị luận xã hội

Chi tiết "công thức vàng" trả lời câu hỏi về tác dụng của biện pháp tu từ

Chi tiết "công thức vàng" trả lời câu hỏi về tác dụng của biện pháp tu từ

Hướng dẫn trả lời hiệu quả các câu hỏi lí giải nguyên nhân trong Đọc hiểu

Hướng dẫn trả lời hiệu quả các câu hỏi lí giải nguyên nhân trong Đọc hiểu

Thảo luận về bài viết này

TIP VIẾT VĂN HAY

Chi tiết nghệ thuật – Linh hồn của tác phẩm văn chương

Chi tiết nghệ thuật – Linh hồn của tác phẩm văn chương

5 cách mở bài ấn tượng chinh phục mọi đề nghị luận

5 cách mở bài ấn tượng chinh phục mọi đề nghị luận

Những nhận định LLVH hay dùng cho mở bài

Những nhận định LLVH hay dùng cho mở bài

Nâng cấp văn phong cho bài lí luận văn học

Nâng cấp văn phong cho bài lí luận văn học

Giải mã cấu tứ và hình ảnh: Nghệ thuật phân tích thơ trữ tình

Giải mã cấu tứ và hình ảnh: Nghệ thuật phân tích thơ trữ tình

Hình ảnh hoa xuân trong thi ca Việt

Hình ảnh “hoa xuân” trong thi ca Việt

Phương pháp chinh phục dạng bài phân tích hình ảnh trong truyện

Phương pháp chinh phục dạng bài phân tích hình ảnh trong truyện

Nhận biết và phân tích cấu tứ trong thơ

Nhận biết và phân tích cấu tứ trong thơ

Phân biệt thông điệp và bài học

Phân biệt thông điệp và bài học

Gợi ý những kết bài hay cho bài văn nghị luận văn học theo thể loại

Gợi ý những kết bài hay cho bài văn nghị luận văn học theo thể loại

Cách đưa kiến thức lí luận vào bài viết nghị luận văn học

Cách đưa kiến thức lí luận vào bài viết nghị luận văn học

Khung phân tích cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình trong thơ

Khung phân tích cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình trong thơ

Làm chủ dạng bài phân tích thơ thất ngôn bát cú Đường luật chỉ với một công thức

Làm chủ dạng bài phân tích thơ thất ngôn bát cú Đường luật chỉ với một công thức

Viết đoạn văn 200 chữ – Chuẩn cấu trúc, giàu cảm xúc

Viết đoạn văn 200 chữ: Chuẩn cấu trúc, giàu cảm xúc

Cách làm dạng câu hỏi: Lý giải tình cảm, thái độ của tác giả hoặc người kể chuyện với một nhân vật trong văn bản

Cách làm dạng câu hỏi: Lý giải tình cảm, thái độ của tác giả hoặc người kể chuyện với một nhân vật trong văn bản

HocVan.edu.vn

"Văn học giống như ánh sáng, chỉ cần bạn sử dụng một cách thích hợp, nó có thể xuyên thấu mọi thứ."

  • Trang chủ
  • Học văn THCS
  • Học văn THPT

© 2025 hocvan.edu.vn | Design by wowwgame.com

Không tìm thấy
View All Result
  • Trang chủ
  • Học văn THCS
    • Học tốt Ngữ văn 6
    • Học tốt Ngữ văn 7
    • Học tốt Ngữ văn 8
    • Học tốt Ngữ văn 9
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
  • Học văn THPT
    • Học tốt Ngữ văn 10
    • Học tốt Ngữ văn 11
    • Học tốt Ngữ văn 12
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi

© 2025 hocvan.edu.vn | Design by wowwgame.com

Welcome Back!

Login to your account below

Forgotten Password?

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In