Đề bài: Bàn về thơ, có ý kiến cho rằng: Thơ là tình, nhưng không phải là những cảm xúc hời hợt, mà là lí trí đã chín muồi nhuần nhuyễn. Bài thơ hay bao giờ cũng gói ghém bên trong một chiều sâu suy nghĩ, chứa đựng ít nhiều chân lí tinh tế của cuộc đời.
(Phương Lựu, in trong Khơi dòng lý thuyết lí luận phê bình trên đà đổi mới văn hóa văn nghệ, NXB Hội Nhà văn, 2014, tr.71)
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua bài thơ “Đôi bàn tay mẹ” của Trương Trọng Nghĩa, hãy viết bài văn nghị luận làm sáng tỏ ý kiến trên.
Đôi bàn tay mẹ
Cầm tay mẹ đưa lên mũi
Con nghe mùi bùn non những ngày mẹ cấy đồng sâu ruộng cạn
Có mùi khét nắng những buổi trưa đổ lửa
Và mùi hoa bưởi thoang thoảng mẹ gội đầu lúc chiều hôm
Có mùi tanh nồng của những con sặc con rô mẹ bắt ngoài đồng
Có hương gạo mới trên bếp hồng mỗi tối
Có mùi khói nồng nàn rơm rạ
Và mùi dầu phong thấp mẹ xoa mỗi đêm…
Bàn tay có ngón vắn, ngón dài
Nhưng tình thương mẹ dành cho đứa nào cũng vậy
Đôi bàn tay suốt đời lam lũ
Suốt một đời mẹ chẳng đi đâu
Chỉ quanh quẩn, xóm làng ruộng rẫy…
Đôi bàn tay mẹ
Dẫu đầy những vết chai lồi lõm như bờ ruộng tháng ba
Khi áp vào má bỗng thấy mình bé lại
Đôi bàn tay vuốt tóc con êm như ru…
Đôi bàn tay mẹ
Dẫu ngón trỏ bám phèn
Ngón giữa lấm lem
Ngón út dính đầy mủ chuối
Mẹ vẫn luôn dạy các con giữ mình sạch trong…
-Trương Trọng Nghĩa
Bài làm
Trong hành trình sáng tạo nghệ thuật, thơ ca luôn được xem là miền đất của cảm xúc. Song, cảm xúc ấy không thể là những rung động hời hợt, nhất thời, mà phải được chưng cất, lắng đọng qua suy tư và chiêm nghiệm. Bởi lẽ, như một ý kiến đã từng khẳng định: “Thơ là tình, nhưng không phải là những cảm xúc hời hợt, mà là lí trí đã chín muồi nhuần nhuyễn. Bài thơ hay bao giờ cũng gói ghém bên trong một chiều sâu suy nghĩ, chứa đựng ít nhiều chân lí tinh tế của cuộc đời.” Ý kiến ấy không chỉ làm sáng tỏ bản chất của thơ ca mà còn được minh chứng rõ nét qua bài thơ “Đôi bàn tay mẹ” của Trương Trọng Nghĩa – một khúc trữ tình lặng sâu về tình mẫu tử và những giá trị nhân sinh bền vững.
Trước hết, cần hiểu đúng nội hàm của nhận định. “Thơ là tình” bởi tình cảm là mạch nguồn khởi phát mọi sáng tạo thi ca. Tuy nhiên, đó không phải là những cảm xúc bộc phát, hời hợt, mà là những rung động chân thành, tinh tế, mãnh liệt và sâu xa trước hiện thực đời sống. Thơ, vì thế, không dừng lại ở việc giãi bày cảm xúc cá nhân, mà còn là sự kết tinh của “lí trí đã chín muồi nhuần nhuyễn” – tức là chiều sâu tư duy, sự chiêm nghiệm và ý thức nghệ thuật của người cầm bút. Chính nhờ quá trình lắng lọc ấy, bài thơ mới có khả năng gói ghém những chân lí tinh tế của cuộc đời, những quy luật nhân sinh mang ý nghĩa phổ quát. Như vậy, ý kiến trên đã chạm đến đặc trưng cốt lõi của thơ ca: sự hòa quyện giữa cảm xúc và tư tưởng, giữa trái tim rung động và trí tuệ tỉnh táo.
Theo Thuật ngữ văn học, thơ là hình thức sáng tác phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng và những cảm xúc mạnh mẽ của con người bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và đặc biệt giàu nhịp điệu. Nhưng thơ không phải là sự tuôn trào cảm xúc bản năng, trực tiếp, mà là tình cảm đã được ý thức, được gạn lọc qua cảm xúc thẩm mĩ và lí trí. Tình cảm trong thơ vừa mang dấu ấn cá nhân, vừa có khả năng nâng lên thành tiếng nói chung của con người trước cuộc đời. Hơn nữa, cảm xúc trong thơ không đứng yên mà luôn vận động: từ rung động trực tiếp đi đến chiều sâu nhận thức và tư tưởng. Thông qua hiện thực khách quan, nhà thơ gửi vào tác phẩm những trăn trở, suy tư và thông điệp nhân sinh tinh tế. Vì vậy, một bài thơ hay không chỉ làm lay động lòng người mà còn bồi dưỡng những tình cảm cao đẹp, khơi gợi những tư tưởng tiến bộ và những bài học triết lí sâu sắc.
Bài thơ “Đôi bàn tay mẹ” của Trương Trọng Nghĩa là minh chứng thuyết phục cho nhận định ấy. Được viết bằng thể thơ tự do, chia thành những khổ thơ có độ dài không đồng đều, bài thơ được kết nối xuyên suốt bởi hình tượng trung tâm: đôi bàn tay mẹ. Qua hình tượng giản dị mà giàu sức gợi ấy, tác giả đã bộc lộ tình yêu thương, sự thấu hiểu và lòng biết ơn sâu nặng của người con đối với mẹ, đồng thời gửi gắm nhiều thông điệp nhân sinh sâu sắc.
Trước hết, bài thơ là tiếng lòng chân thành, tha thiết – kết quả của những cảm xúc mãnh liệt đã được lí trí chín muồi của người con khi nghĩ về mẹ. Hình ảnh “cầm tay mẹ đưa lên mũi” mở ra một thế giới cảm giác đầy ám ảnh. Đôi bàn tay mẹ mang theo biết bao mùi hương của cuộc đời lam lũ: mùi bùn non của ruộng đồng, mùi khét nắng trưa hè, mùi hoa bưởi thoang thoảng lúc chiều hôm, mùi tanh nồng của cá đồng, mùi gạo mới trên bếp hồng, mùi khói rơm rạ, cả mùi dầu phong thấp mẹ xoa mỗi đêm. Chuỗi mùi hương ấy không chỉ khắc họa chân thực cuộc đời lao động vất vả của mẹ mà còn là dòng hồi ức thấm đẫm yêu thương. Đó là tình cảm gắn bó, gần gũi, được cảm nhận bằng tất cả giác quan, bằng sự tinh tế của một tâm hồn đã đủ chín để thấu hiểu những hi sinh thầm lặng.
Từ xúc động, người con đi đến trân trọng và biết ơn. Hình ảnh đôi bàn tay “ngón vắn, ngón dài” gợi lên sự không hoàn hảo về hình thể, nhưng ngay lập tức được nâng lên thành chân lí của tình mẫu tử: “tình thương mẹ dành cho đứa nào cũng vậy”. Mẹ yêu con bằng thứ tình cảm vượt lên mọi quy luật so đo, tính toán. Cả cuộc đời mẹ “chẳng đi đâu”, chỉ quanh quẩn với xóm làng, ruộng rẫy, hi sinh trọn vẹn cho con. Ở đây, cảm xúc không dừng lại ở nỗi thương xót, mà đã được lí trí soi chiếu để trở thành nhận thức sâu sắc về sự hi sinh vô điều kiện của mẹ.
Không chỉ dừng ở cảm xúc, bài thơ còn gói ghém bên trong một chiều sâu suy nghĩ, chứa đựng những chân lí tinh tế của cuộc đời. Đôi bàn tay mẹ “đầy những vết chai lồi lõm như bờ ruộng tháng ba” – một so sánh mộc mạc mà ám ảnh. Những vết chai ấy chính là chứng tích đẹp nhất của tình mẫu tử và sự hi sinh. Khi áp vào má, người con “bỗng thấy mình bé lại”, để rồi nhận ra: đôi bàn tay thô ráp ấy lại có sức mạnh chở che, nâng đỡ, trở thành điểm tựa tinh thần theo con suốt hành trình đời người. Đó là chân lí giản dị mà sâu sắc: tình mẹ, dù âm thầm, vẫn là nguồn sức mạnh bền bỉ nhất.
Đặc biệt, khổ thơ cuối mở ra một tầng ý nghĩa nhân sinh cao đẹp. Đôi bàn tay mẹ “bám phèn”, “lấm lem”, “dính đầy mủ chuối” – càng lấm bùn đất bao nhiêu thì tâm hồn mẹ lại càng sáng trong bấy nhiêu. Từ đôi bàn tay lao động lam lũ ấy, mẹ dạy con “giữ mình sạch trong”. Bài thơ vì thế vượt khỏi phạm vi cảm xúc cá nhân để trở thành bài học về nhân cách: yêu lao động chân chính, sống trong sạch, nhân hậu giữa cuộc đời nhiều bụi bặm.
Thành công của bài thơ còn đến từ những đặc sắc nghệ thuật: kết cấu xoay quanh một hình tượng trung tâm; thể thơ tự do phóng khoáng; hình ảnh chân thực, giàu sức gợi và đa nghĩa; ngôn ngữ giản dị mà chọn lọc; các biện pháp tu từ so sánh, liệt kê được vận dụng linh hoạt. Tất cả đã góp phần khắc họa vẻ đẹp người mẹ trong cảm nhận của người con, đồng thời làm nổi bật chiều sâu tư tưởng và giá trị nhân văn của tác phẩm.
Từ đó, có thể khẳng định: ý kiến trên là hoàn toàn đúng đắn. Nó không chỉ làm sáng tỏ mối quan hệ không thể tách rời giữa cảm xúc và tư tưởng trong thơ ca, mà còn là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá một bài thơ hay. Với người nghệ sĩ, đó là lời nhắc nhở: phải sống rất sâu với cuộc đời, biết làm chủ cảm xúc bằng chiều sâu tư tưởng và những triết lí tinh tế. Với người đọc, đó là yêu cầu khám phá tác phẩm bằng cả trái tim và trí tuệ, để nhận ra những giá trị nhân sinh ẩn sau vẻ đẹp ngôn từ.
“Đôi bàn tay mẹ” của Trương Trọng Nghĩa là minh chứng thuyết phục cho nhận định: thơ là sự hòa quyện giữa tình cảm mãnh liệt và lí trí chín muồi. Qua hình tượng đôi bàn tay mẹ, bài thơ không chỉ lay động cảm xúc mà còn gửi gắm những chân lí sâu sắc về tình mẫu tử, lao động và nhân cách con người – những giá trị bền vững theo ta suốt đời.

























Thảo luận về bài viết này