Đề bài: Có ý kiến cho rằng: “Văn chương không phải để giải trí”
Trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên. Bằng trải nghiệm văn học của bản thân hãy làm sáng tỏ.
Bài làm
Trong Nghĩ về thơ nhà thơ Lê Đạt đã từng hạ bút rằng: Đọc một câu thơ hay, ta thường có cảm giác đứng trước một bến đò gió nổi, một khao khát sang sông, một khúc đẩy lên đường hướng thiện với những vùng trời tốt hơn, nhân tính hơn. Đúng vậy, văn học như nguồn suối mát lành chảy vào tâm hồn, thanh lọc lòng người xua tan những mệt mỏi, u uất, khổ đau và thù hận, tiếp thêm niềm tin để con người mạnh mẽ đối mặt với bão giông cuộc đời. Vậy ánh sáng văn chương có còn đủ diệu kì để giúp thế giới con người thoải mái, thư giãn, giải trí sau những mệt mỏi, căng thẳng? Bàn về điều này có ý kiến cho rằng: Văn chương không phải để giải trí.
Từ khi Adam và Eva sinh ra trong vườn chúa, con người đã có bao nỗi niềm cần gửi gắm. Kể từ khi con người cất tiếng gọi đầu đã có bao nhiêu cảm xúc cần giãi bày. Văn học nghệ thuật ra đời dường như có một sức mạnh thiêng liêng là sẻ chia tâm tình cùng những nỗi lòng đó. Vì thế mà văn học được coi là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu; nhận thức, phán ánh và thể hiện tư tưởng tình cảm bằng hình tượng nghệ thuật. Tác giả ý kiến cho rằng: “Văn chương không phải để giải trí”. “Giải trí” là hoạt động thẩm mĩ trong thời gian rỗi nhằm giải tỏa căng thẳng trước cuộc sống, tạo sự hứng thú cho con người và là là điều kiện phát triển con người một cách toàn diện về trí tuệ, thể lực và thẩm mĩ. Đây cũng là một trong các chức năng của văn học. Từ “không” cho thấy ý kiến phủ nhận chức năng giải trí của văn chương để gián tiếp khẳng định các chức năng khác như: giáo dục, nhận thức, thẩm mĩ. Như vậy quan niệm của tác giả hoàn toàn đúng đắn.
Vậy tại sao lại nói: “Văn học không phải để giải trí”? Xuất phát từ đặc trưng văn học, văn học là một hình phái ý thức xã hội, văn chương hướng đến phản ánh cuộc sống con người trong các mối quan hệ phong phú, đa dạng với thế giới hiện thực. Nhắc đến Applo hiếm có ai không nghĩ đến mặt trời và ánh sáng, vì đây là vị thần duy nhất điều khiển được cỗ xe mặt trời. Sẽ không khập khiễng nếu ví những hạt bụi bể giữa lòng đời quan trọng với văn học như Applo không thể thiếu đi cỗ xe của mình. Văn học đi sâu vào cuộc sống bộn bề phức tạp, đặc biệt quan tâm tới thân phận con người trong đời sống và tập trung khám phá chiều sâu không cùng, đầy bí ẩn trong tâm hồn con người.Tuy nhiên hiện thực trong tác phẩm là hiện thực đã được lắng lọc qua cảm thụ, qua những rung động mãnh liệt của nhà văn. Cho nên, nó không còn là hiện thực thô nhám của đời thường và là hiện thực “bậc hai”- một hiện thực tinh tế hơn, giàu xúc cảm hơn. Nó có thể giúp người đọc đối diện với nhiều cảnh ngộ, những số phận mà cuộc sống đời thường dễ bị lãng quên, mở ra góc nhìn mới cho những gì đã trở nên quen thuộc. Nó truyền cho người đọc những năng lượng cảm xúc mãnh liệt của nhà văn. Chính tính phát hiện, sự mới mẻ trong cách nhìn, mạnh mẽ trong cảm xúc đã giúp tác phẩm có thể tác động sâu xa đến người đọc có thể khóc cười, xúc động sâu xa. Có lẽ vì thế mà tác giả của cuốn “Văn chương lâm nguy” từng viết: “Điều mà văn học đem đến cho con người không phải là những kiến thức mới mà bằng một cuộc giao tiếp mới với những kẻ không giống ta và trong ý nghĩ ấy nó mang những luân lí tình cảm hơn là khoa học.” Chính hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ đã đưa văn chương trở thành một cơ thể sống. Người đọc có thể hóa thân vào nhân vật, cùng nhân vật đi qua niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, khổ đau.
Chính sự nhập thân đó khiến người đọc sống một cuộc đời khác, làm giàu có thêm nội tâm của mình, từ đó tự thay đổi tư tưởng, hành vi của mình – sự thay đổi tự thay đổi từ bên trong. Chính bởi khả năng đó mà tôi nhớ lại Thạch Lam khi ông tin rằng: “Văn chương là thứ khí giới thanh cao, đắc lực mà chúng ta vừa để thay đổi thế giới giả dối tàn ác, vừa làm cho lòng người trở nên trong sạch và phong phú hơn”.
Mọi áng văn thơ là lời giải mà thế giới tinh thần và nội tâm sâu thẳm của trái tim nghệ sĩ. Nó kết tinh những trăn trở nghiền ngẫm của nghệ sĩ về nhân sinh thế sự, kết tinh bao ước mơ, hoài bão tâm niệm mà anh muốn giãi bày sẻ chia. Vì thế một tác phẩm nghệ thuật đích thực phải là một chiếc vỏ ốc nhỏ bé mong manh song lấp lánh sắc màu và từ đó ngân lên tiếng thì thầm từ đại dương sâu thẳm, ngân lên những khúc ca về cuộc sống, tình yêu và khát vọng muôn đời.
Chính hình tượng nghệ thuật được xây dựng bởi chất liệu ngôn từ đã đưa văn chương trở thành một thế giới sống, góp phần thay đổi thế giới giả dối, tàn ác, hướng con người đến với xã hội văn minh, tiến bộ, công bằng, tự do. Nó trở thành vũ khí đắc lực đấu tranh cải tạo xã hội, chống lại cường quyền bạo lực. Truyền thống dùng ngòi bút làm vũ khí đuổi giặc của ông cha ta đã minh chứng cho điều đó. Nguyễn Đình Chiểu viết:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
Hồ Chí Minh đã tiếp nối và mở rộng quan niệm cho ông:
“Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
Và nhìn ra văn học thế giới, ta bỗng hiểu vì sao “Những người khốn khổ” — V.Huygo, “Anna Karênara” — L. Tônxtôi còn trường tồn cùng nhân loại. Phải chăng là bởi trong những tuyệt tác ấy đã góp phần “tố cáo và thay đổi một thế giới tàn ác”. Trong “Những người khốn khổ”, V.Huygo không ngần ngại sử dụng sức mạnh “như bom đạn” của ngòi bút để tố cáo quyết liệt xã hội tư sản Pháp với bao bất công ngang trái đã đày đọa những con người tốt như Giăng Văn Giăng. Phăng tin vắc với sự đau khổ, khốn cùng. Và L.Tônxtôi qua “Anna Karênina” cũng lên án mạnh mẽ xã hội Nga hoàng đã cướp đoạt hạnh phúc của những người phụ nữ đáng thương, khao khát hạnh phúc như Anna và đẩy nàng vào cái chết bi thảm. Đến đây ta bỗng hiểu hơn câu thơ của Sóng Hồng:
“Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ
Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”
Văn chương muôn đời không chỉ cốt ùng vũ khí của mình để đấu tranh cải tạo xã hội mà với thứ “ánh sảng riêng” len lỏi vào từng ngõ ngách của tâm hồn, văn chương tác động tích cực đến nhận thức tư tưởng của con người, “làm thay đổi mắt ta nhìn, việc ta nghĩ”. Ta được “ra người”, sống tốt hơn nhận thức đúng đắn về cuộc sống để hướng tới giá trị chân – thiện — mĩ. Bước vào thế giới nghệ thuật ngôn từ, bạn đọc như ngụp lặn cùng các cuộc phiêu lưu của nhân vật, được khám phá lẽ sống mà nhà văn gửi gắm, từ đó ý thức về sứ mệnh của mình. Đã có chàng sinh viên khỏe lại sau khi xem vở kịch của Sê – Khốp. Nhưng ông chỉ lạnh lùng và đáp rằng: “Tôi viết đâu phải chỉ thấy những giọt nước mắt. Hãy xem các người đã sống tôi sống để như thế nào? Vậy thì có gì mà phải khóc?” Cái mà văn học muốn là con người nhận thức mà thay đổi chứ không phải sự quy lụy của con người. Chính trong những trải nghiệm khi bước vào trang sách, ta hiểu biết về nhân loại hơn.
“Văn chương không phải để giải trí” bởi văn chương đem đến cho con người, nhất là con người hiện đại ngày nay nhiều giá trị tinh thần. Các tác phẩm văn học đương đại hiện nay dường như viết rất nhiều về sự cô đơn, sự mất kết nối của con người để đem đến cho con người những ý nghĩa về sự tồn tại. Mỗi sự tồn tại của con người đều có ý nghĩa nhất định. Cuộc sống có thể nhiều bất trắc, biến cố, hay đau khổ, bất an nhưng được sống vẫn là điều tuyệt diệu và quanh ta vẫn còn nhiều điều đẹp đẽ luôn hiện hữu. Đó cũng chính là những điều mà nhà văn Đoàn Minh Phượng muốn gửi gắm tới bạn đọc qua tiểu thuyết “Mưa ở kiếp sau”. Tác phẩm kể về một cô gái trẻ từ Hà Nội vào Sài Gòn tìm cha, người đã bỏ rơi mẹ cô lúc bà mang thai. Khi đến nơi, cô gặp hồn ma của đứa em gái sinh đôi mất tích 22 năm trước. Người em gái dẫn dắt, lôi cuốn chị vào một thế giới ma mị, một thế giới của loài người đầy rẫy tội ác, lừa gạt, bội phản…Trong “Mưa ở kiếp sau”, tất cả các nhân vật nữ đều chịu chung cái kiếp “lưu lạc”. Mỗi người một cách, nhưng chẳng ai được sống trọn vẹn với tổ ấm, với hạnh phúc ấm êm của mình. Ai ai cũng mãi hoài day dứt với một nỗi niềm khắc khoải nào đó trong tim. Mẹ Mai phải từ bỏ mái ấm của mình từ khi còn rất trẻ. Quê hương, gia đình, mẹ, cha luôn là một ước vọng xa vời, một nỗi đau mà mẹ không dám chạm vào. Mai, mười tám tuổi, cũng rơi vào cuộc hành trình ly hương – dù chẳng có quê hương. Mai bước vào con đường đi tìm lại chính bản thân mình, tìm câu hỏi “mình là ai trong cuộc đời”. Dì Lan thì luôn đau đáu trong lòng một câu hỏi về sự thật của hai mươi năm về trước. Bởi vậy mà trong cõi lòng chẳng khi nào được thanh thản. Chi cũng vậy, mặc dù cả câu chuyện là một tiếng thở dài cay đắng về kiếp phù sinh nhưng không phải vì thế mà tác giả nhìn cuộc đời bằng đôi mắt màu xám. Đoàn Minh Phượng vẫn giúp người đọc khám phá ra những vẻ đẹp của cuộc sống để ta biết tin tưởng, hi vọng ở tương lai, để có thêm nguồn động lực sống, có thêm câu trả lời cho sự tồn tại của chúng ta. Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của người con gái – món quà kì diệu của cuộc sống. Đoàn Minh Phượng nhắc nhiều đến vẻ đẹp thân thể của người con gái. Song, cách viết của chị không mang nhục cảm mà chẳng khác gì một lời ngợi ca những tuyệt tác của tự nhiên. Đó là vẻ đẹp ngọt ngào trời phú: “Đôi vai trần và những lọn tóc mềm buông xuống làn da còn ẩm ướt… hai bầu ngực gì tròn và trắng, thật hoàn hảo. Không hiểu sao sự ngọt ngào bất chợt đó làm tôi nôn nao buồn. Cũng có một thời mẹ tôi cũng trẻ như vậy, ngực mẹ đã tràn đầy, mịn màng êm ái, như hai bông hoa quỳnh nở trắng ngần trong đêm – và héo đi trong bóng tối không ai nhìn thấy”.
Hơn tất cả, vẻ đẹp của tâm hồn mới chính là cái mà tác giả khát khao tìm kiếm, ngưỡng vọng. Trong “Mưa ở kiếp sau”, nhân vật không phải là một bản thể toàn diện, bất biến. Phải có cả một quá trình đắng cay để gìn giữ những nét đẹp tâm hồn của mình. Điều đó được thể hiện qua nhân vật Mai. Mai mang một vẻ đẹp trong sáng, dịu dàng mà tiềm ẩn một sức sống mãnh liệt. Trước bao cạm bẫy của cuộc đời, cô phải cố ngoi lên để sống, để giữ lấy cho tâm hồn mình sự trong vắt. Nhân vật trong tác phẩm được xây dựng trong mối mâu thuẫn lớn giữa yêu thương và thù hận. Nhưng bao giờ cũng thương yêu cũng chiến thắng. Để thể hiện vẻ đẹp ấy, tác giả đã đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật để khai mở những tâm tư, những trăn trở trong cõi lòng của nhân vật. Cuốn tiểu thuyết là cả một sự tìm tòi, thể hiện sự đổi mới không ngừng của Đoàn Minh Phượng: từ kết cấu, ngôn ngữ, nghệ thuật trần thuật đến hệ thống những biểu tượng, thế giới nhân vật, giọng văn dịu nhẹ như một cơn mưa buồn… Như vậy, cái nhìn khám phá vẻ đẹp cuộc sống – chủ yếu là vẻ đẹp của con người trong tác phẩm cũng chính là một khía cạnh giúp tác phẩm đem đến những ý nghĩa nhân sinh cho con người: “Dù anh viết ngược viết xuôi thế nào, dù cho rằng anh viết về sự giận dữ, về lòng căm thù, về nỗi đau chán chường thì rốt cuộc vẫn để truyền thổi vào tâm hồn người đọc một niềm tin, một tình yêu bát ngát với cuộc sống.”
Nhưng văn học đâu chỉ mang trên mình những sứ mệnh ấy, thứ ánh sáng mà văn chương tỏa ra còn soi rọi hồn ta khiến trái tim thanh thản, thư thái, xua tan đi mọi áp lực của chốn bộn bề. Tôi bỗng nhớ đến câu thơ của Phùng Quán:
“Có những phút ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”
Có lẽ vì thế mà giải trí trong văn chương cũng được đề cao, đặc biệt trong xã hội ngày nay với những vất vả, lo toan, xô bồ của chốn thị thành, sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật. Vì vậy ý kiến đúng nhưng chưa đủ. Là một loại hình nghệ thuật, chức năng đầu tiên của văn học là đem đến cho con người tính giải trí. Người đọc tìm đến văn chương trước hết là để giải trí thẩm mĩ. Bởi thế mà nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh trong bài “Về bản chất văn chương” đã hạ bút rằng “Văn chương chân chính xưa nay luôn vì mục tiêu kép: có ích và vui, bồi dưỡng và hấp dẫn giúp cho cuộc sống tốt đẹp hơn, ý nghĩa hơn.”
Văn học như một lăng kính loại bỏ những bụi bặm, những nhốn nháo, xấu xa đưa tâm hồn chúng ta đến những điều ngọt ngào và êm dịu nhất, làm thức dậy trong trái tim bạn đọc những xúc cảm thẩm mĩ, những rung động đáng nhớ. Ta sẽ có những phút giây hưởng thụ thẩm mĩ dồi dào, tinh thần thư thái, sống “ra người hơn” khi được tiếp xúc với một con người, một cảnh đời, được chia sẻ tâm sự suy nghĩ, khóc cười cùng nhân vật.
Đặc biệt trong cuộc sống hiện nay – kỉ nguyên của toàn cầu hóa với sự lên ngôi của khoa học kĩ thuật, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ra đời đã tác động, ảnh hưởng to lớn đến cuộc sống, tạo nên diện mạo mới cho thế giới. Tuy nhiên, nó cũng khiến con người phải đối mặt với nhiều áp lực cần được giải tỏa. Với nhịp độ phát triển như vũ bão, áp lực guồng quay công việc cùng hàng loạt nỗi sợ hãi đã biến con người thành cỗ máy, ít được tìm hiểu, chia sẻ, đôi khi rơi vào cô đơn lạc lõng ngay trong thế giới của chính mình. Dẫu là những môn nghệ thuật thuần túy như âm nhạc, sân khấu, hội họa,… cũng khó lòng thay thế được văn học. Vì vậy chức năng giải trí của văn học cũng được đề cao. Tuy nó không phải là cái ở lại sau cùng nhưng nó sẽ là cái đầu tiên khơi gợi, chuyển dần cảm xúc thích thú, vui vẻ đem đến cho người đọc cảm giác thư thái để thưởng thức nghệ thuật.
Khi ta đương sống giữa bầu trời Việt Nam thân yêu, rất khó có thể tìm một thước phim, bức ảnh nào có thể đưa ta đến với nước Nga xinh đẹp bằng “Mùa lá rụng” của nữ sĩ Olga Bergolt:
“Những đàn sếu bay qua. Sương mù và khói tỏa.
Moska lại đã thu rồi
Bao nhiều vườn như lửa chói ngời
Vòm lá sẫm ánh vàng lên rực rỡ
Những tấm biển treo dọc đường đại lộ
Nhắc ai đi qua dù đầy đủ lứa đôi
Nhắc cả ai cô đơn trên đời
Tránh đừng đóng vai mùa lá rụng”
Mùa thu của nước Nga trên áng thơ của thi sĩ đẹp đến nao lòng, ta cứ ngỡ rằng tác gia gieo nhạc vào thơ. Độc giả có thể cảm nhận được phong vị mùa thu của Moska với những đặc trưng riêng: những hàng bạch dương xanh rủ bóng cùng lá vàng, lá đỏ, đàn sếu điểm trời xanh biếc….. Mùa thu gợi thương gợi nhớ mà se sắt lòng. Với những câu thơ bay bổng cùng nhịp điệu êm ái như lời bài hát bởi lối vắt dòng tự nhiên, dạt dào xúc cảm. Đọc “Mùa lá rụng” làm lòng ta bâng khuâng, xao xuyến lạ thường, lòng ta dịu lại khi cảm nhận hương vị của mùa thu ở phương Tây, tựa hồ như mình cũng là người con của nước Nga yêu dấu. Những phút giây căng thẳng con người lại tìm đến văn chương như một sự “cứu rỗi”, văn học giúp con người sống chậm lại, sống sâu hơn với những cung bậc cảm xúc, thả hồn mình vào thế giới nghệ thuật. Và khi ấy dù là một câu chuyện tiếu lâm, những mẩu chuyện trí tuệ dân gian đầy hóm hỉnh cũng khiến ta giảm bớt đi mệt nhọc giữa cuộc sống bộn bề bao lo toan, hối hả. Lòng ta lắng lại trước câu ca dao mang vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, của làng quê Việt Nam:
“Quê em có gió bốn mùa
Có trăng giữa tháng có chùa quanh năm
Chuông hôm, gió sớm, trăng rằm
Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi”
Chỉ bấy nhiêu thôi nhưng cũng đủ làm cho lòng ta thanh sạch, tâm hồn bình yên đến lạ. Đôi khi giữa cuộc sống xô bồ, vội vã, vần vũ con người lạnh lùng bước qua nhau không nói một lời chào, ta thấy lòng mình cô đơn quá đỗi. Ai đi lại nhẹ nhàng tìm đến văn chương. Những kỉ niệm trong trẻo, mơn man, ngọt ngào trong buổi đầu tới trường của nhân vật “tôi” (Tôi đi học – Thanh Tịnh) đã đánh thức bao hoài niệm đẹp đẽ trong lòng mỗi người. Tôi nhớ nét viết đầu tiên trong ngày đầu đi học, nhớ hình ảnh mẹ với dáng hình mảnh mai đầy thương mến dìu dắt bước cửa đầu đời, cảm giác miên man như mới ngày nào. Để rồi ta nhận ra ở quê hương nghèo nhưng vẫn có dáng mẹ tần tảo ngóng đợi ta mỗi ngày, còn ta thì cứ mãi chạy theo những thứ vui hiện tại, cao sang, những thứ vật chất hào nhoáng ngoài kia. Ta bật khóc tìm về với hơi ấm thương yêu của mẹ. Những cảm xúc thẩm mĩ mà văn chương mang lại giống như dòng suối mát, như lời ru à ơi, như nụ cười, nó như để con người rũ bỏ những muộn phiền, âu lo của cuộc sống hàng ngày chật chội và càng tìm hiểu khám phá sâu tòa lâu đài văn học người đọc càng nhận ra sự kì diệu tinh tế của văn chương nghệ thuật. Tôi còn nhớ trong lời Mai của tập “gió lạnh đầu mùa”, Thạch Lam đã từng tâm sự: “Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên; trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có thể có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”. Và lời tri ngộ ấy dường như đã trở thành hoa tiêu để cánh buồm văn chương giương cao trong sóng nước. Suốt cuộc đời cầm bút của mình, Thạch Lam luôn vì lí tưởng ấy mà sáng tác. Và nếu coi văn chương của Thạch Lam là “một thanh âm trong treo chen vào giữa bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ” thì những câu văn trong “Dưới bóng hoàng lan” là minh chứng cho điều đó. Đọc tác phẩm, ta như cảm nhận được một mạch nước mát lành len lỏi chảy trong tâm hồn, gạn lọc đi những hạt sạn, để lại trong lòng mỗi người đọc cảm giác mát mẻ, bình yên. Ta như cảm thấy hương hoàng lan bao trùm, tràn ngập hòa vào câu văn giàu chất thơ mang đậm phong cách Thạch Lam. “Dưới bóng hoàng lan” có cốt truyện nhẹ nhàng, chỉ là những rung động tâm hồn của nhân vật Thanh sau hai năm xa nhà lên tỉnh làm việc và trở lại ngôi nhà xưa yêu dấu – nơi có người bà hiền hậu, có cô hàng xóm dễ thương, có hương hoàng lan ngọt ngào tinh khiết. Dường như Thạch Lam đã làm cho người đọc đi cùng Thanh vào thế giới cổ tích ấy. Mọi lo âu thường nhật với những bon chen nơi phố thị ồn ào nép lại phía sau để nhường chỗ cho những xúc cảm, cho những rung động trước tạo vật thiên nhiên nơi thôn xóm bình dị. Đó là ngôi nhà vẫn vẹn nguyên như ngày Thanh đi dưới con đường quen thuộc lát gạch đỏ với phủ rêu xanh mướt. Căn nhà mát mẻ mà yên ắng mà khi bước vào anh có cảm giác “tựa như bao nhiêu sự ồn ào ở ngoài kia đều ngưng lại bên khung cửa, chàng cảm tưởng mình như nhỏ bé lại trong vòng tay yêu thương của bà, thấy mình mãi là một đứa trẻ cần được vỗ về”. Trang văn của Thạch Lam nhẹ nhàng, giản dị mà sao du dương thân thương đến thế. Hương hoàng lan, hương vị của tình người cứ thế lay thúc ám ảnh trái tim bạn đọc, Những kỉ niệm quá khứ cùng với những cử chỉ yêu thương ân cần của bà dành cho Thanh bất giác khiến ta nghẹn ngào, xúc động, lòng ta lắng xuống. Một cảm giác thanh bình, ta như không còn vướng bận điều gì mà tìm lại kí ức tuổi thơ để đón nhận từng sự quan tâm của người ta yêu quý nhất, mỉm cười hạnh phúc với những kỉ niệm thân yêu của chính mình. Xúc cảm ấy khiến tâm hồn ta nảy nở, như được tiếp thêm sức mạnh trên hành trình ngược xuôi của cuộc đời. Sự trở về của Thanh còn là sự trở về với nguồn cội. Hương hoàng lan tinh khiết lay động cả miền kí ức đã đánh thức dậy trong Thanh những kỉ niệm dịu ngọt với Nga, cô hàng xóm gắn liền với tình yêu trong trẻo chớm nở. Chất lãng mạn thấm đượm từng câu văn trong bầu không khí ngát hương của những tâm hồn tuổi trẻ. Và khi cầm tay Nga, Thanh có cảm tưởng “có cái gì dịu ngọt chăng tơ ở đâu đây khiến chàng vương phải”. Hương thơm của hoàng lan hay chính là hương vị của tình người, của những rung động đầu đời trong trẻo, không quên. Thạch Lam đã làm cho người đọc không còn là chứng nhân ngoài cốt truyện mà hóa thân, nhập thể thành Thanh hay Nga để hồi ức lại những rung động đầu đời của chính mình cũng xốn xang, ngại ngùng mà bẽn lẽn. Quả đúng như Thế Lữ viết:
“Cái thức ban đầu lưu luyến ấy
Nghìn năm hồ dở mấy ai quên”
Dù sau đó Thanh vẫn tiếp tục lên đường, Nga ở lại nhưng sự nhẹ nhàng của tình yêu ấy – mối tình không ngỏ lại, không tiễn đưa vẫn đủ để lay động biết bao tâm hồn, bao trái tim của người đã yêu, đang yêu và sẽ được yêu. Câu chuyện kết lại bằng sự ra đi của Thanh trong nỗi niềm nửa buồn nửa vui. Chàng thanh niên ân nghĩa ấy có trong hành trình của mình một chút êm dịu ngọt ngào của chốn quê xưa, thấy mình “vẫn bé quá và lại đi xa”. Kí ức về bà, về Nga, về mảnh đất dưới chân mãi trở thành miền thương miền nhớ của Thanh, là nơi anh tìm lại sau bao thăng trầm cuộc đời. Để từ đó ta nhận ra rằng mọi người đều có một quê hương, gia đình, nguồn cội, một nơi chốn mà khi đi xa ta nhớ về, đều có một miền kí ức vẫn sẵn sàng ánh lên những giọt sáng và hơi ấm yêu thương ru ta vào chốn bình yên, tiếp sức cho con người trên bước đường rong ruổi của số phận. Và từ đó ta cũng hốt hoảng nhận ra dường như giờ đây mình đã quá bội bạc với quê hương, với nguồn cội. Cuộc sống thị thành với những áp lực vô hình đã làm ta quên đi “nón lá nghiêng che” của mẹ, “vàng hoa bí”, “giậu mồng tơi” của bà. Lời văn nhẹ nhàng nhưng sâu chạy theo vật chất hào nhoáng, những ước mơ xa vời mà quên đi làng quê ngõ nhỏ. Thạch Lam giúp ta nhận ra hạnh phúc thực sự của con người chính là sự thư thái trong tâm hồn khi được sống giữa những gì mình yêu thương. Không có quá nhiều nước mắt, cũng không có những phát ngôn vĩ đại về nhân quyền, dân quyền nhưng “Dưới bóng hoàng lan” — trang văn đậm chất thơ của Thạch Lam vẫn tỏa ra thứ ánh sáng của nền ngọc xanh lấp lánh. Nó khiến ta tạm gác lại chút bộn bề của hiện tại để ngoảnh lại quá khứ, hòa mình vào thiên nhiên để thanh lọc và “tẩy rửa” chính mình, nhắc nhở mình trước tạp của bụi đời. Và nhà văn họ Nguyễn nhân đạo đâu chỉ là thông cảm với cảnh nghèo đói của con người. Nhà văn muốn đạt đến cảnh giới của lòng nhân đạo đó là hướng con người về với con người. Và với “Dưới bóng hoàng lan”, Thạch Lam đã cho con người trở về trọn vẹn với kí ức đẹp đẽ và yên bình, là con đường về với cái chân thiện mĩ của con người.
Đến với trang văn của Thạch Lam lòng ta còn được thanh thản, giải trí khi được thưởng thức văn phong của tác giả “Hai đứa trẻ” với phong cách truyện ngắn trữ tình, mỗi truyện ngắn của Thạch Lam có khi chỉ một ít đời nhưng rất nhiều tâm hồn, chúng ta được thưởng thức những tác phẩm với cốt truyện nhẹ nhàng, giàu chất thơ, thế giới nhân vật được dệt lên từ giọng văn nhỏ nhẹ, sâu lắng, phù hợp với những diễn biến tinh vi của lòng người. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật rất tinh tế. Nếu ví truyện ngắn Thạch Lam như một bản nhạc thì bản nhạc đó không có những nốt thăng chói gắt, mà đó là điệu nhạc du dương, êm dịu tâm tình. Quả đúng như ý kiến: “Niềm vui của nhà văn chân chính là niềm vui của người dẫn đường đến xứ sở cái đẹp”.
Như vậy, văn chương có khả năng hóa giải những áp lực cho con người nhưng không đồng nghĩa với việc đề cao thứ văn chương thị trường, thẩm mĩ, thị hiếu nhất thời của một số độc giả một cách dễ dãi và sáng tác theo tâm lí đám đông. Văn học với sứ mệnh thiêng liêng không chỉ hóa giải áp lực và đôi khi nó còn mở ra một cánh cửa, một khoảng trống không lời để người đọc tự trăn trở và tìm câu trả lời. Đó cũng là cách văn học đồng hành cùng nhân loại. Các loại hình nghệ thuật khác cũng đem đến cho con người những giây phút giải trí, hóa giải những áp lực. Nhưng văn chương tác động đến người đọc theo một con đường riêng thông qua cái hay của ngôn từ nghệ thuật và cái đẹp của hình tượng. Đặc biệt văn học chủ yếu tác động vào con đường nhận thức – tình cảm. Bởi vậy sự tác động của văn học thấm thía và lay động con người hơn. Tuy nhiên, trong cuộc sống ngày nay, văn chương đang phát triển, nhiều hình thức giải trí nghe nhìn vô cùng đa dạng và cuốn hút, liệu văn chương có giữ được vị thế của nó hay không? Điều đó đang đặt ra yêu cầu bức thiết với nhà văn và độc giả. Với nhà văn phải có cái nhìn thức thời, thấu hiểu được những áp lực, nhu cầu thưởng thức của con người, thời đại để có thể hóa giải được những ẩn khuất trong tâm hồn con người. Đồng thời nhà văn cũng cần phải có bản lĩnh để chiến thắng áp lực bẻ cong ngòi bút và không chạy theo những thị hiếu tầm thường của một bộ phận độc giả. Mỗi người đọc tìm đến văn chương để thư thái, di dưỡng tinh thần, nhưng cũng không vì thế mà chạy theo những thứ thức thời mà lãng quên đi những giá trị sâu sắc bền vững của văn chương. Sự lựa chọn khắt khe của độc giả luôn là động lực để nhà văn sáng tạo và văn chương phát triển.
Trong truyện ngắn “Bụi quý”, Pautopxki viết: “Nhưng cũng giống như bông hồng vàng của Samet làm ra để cho Xuyzan được hạnh phúc, sáng tác của chúng ta là để cho cái đẹp của Trái Đất, cho lời kêu gọi đấu tranh vì hạnh phúc, vì niềm vui và tự do, cho cái cao rộng của tâm hồn và sức mạnh của trí tuệ chiến thắng bóng tối. Cho chúng rực rỡ như một mặt trời không bao giờ tắt.” Mỗi nhà văn giống như người thợ Sa met đi vào từng buổi chợ đời để tìm hạt bụi quý làm nên bông hồng vàng của tác phẩm. Và những áng văn chương chân chính sẽ vượt qua được “sự băng hoại của thời gian”. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”
(HSGQG năm 2020 – 20221)

























Thảo luận về bài viết này