Tôi vẫn luôn luôn quan niệm văn chương giống như một chiếc gương thần vậy, nó soi rọi phản ánh cuộc đời; thế nhưng cũng giống như chiếc gương chỉ phản chiếu những hình ảnh không thật, sự vật hiện tượng trong văn học cũng là những ảnh chiếu qua cái nhìn nghệ thuật của người nghệ sĩ. Phải vậy chăng “Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” như lời Lenin tâm đắc?
Quả thật vậy, Xuân Diệu cũng từng nhận định: “Người đọc muốn rằng thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng thơ còn phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ và khi đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ phải in dấu ấn lên đó càng cá thể, càng độc đáo, càng hay.”. Văn học là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt đối lập: hình ảnh chủ quan và thế giới khách quan. Thế giới khách quan là tất cả những sự vật, hiện tượng, tự nhiên ở bên ngoài ta, chúng gắn bó và nằm trong mối quan hệ với con người. Chủ quan là cách nhìn nhận vấn đề của mỗi người, thể hiện bằng hành động mang ý chí, quan điểm theo hướng phiến diện và tính cá nhân riêng của người đó. Nói “Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” nghĩa là văn học phản ánh đời sống thông qua tri nhận của riêng nhà văn; đồng thời thế giới khách quan đi vào văn học đã được hình tượng nghệ thuật tư tưởng, quan niệm của người nghệ sĩ.
Trang Tử có một triết lý rất hay về biển cả: “Biển cả là nơi mà tất cả các nguồn nước trên thế gian này đều đi ra từ đó nhưng nó không bao giờ vơi; và nó cũng là nơi đón nhận tất cả các nguồn nước, nhưng nó không bao giờ đầy”. Văn học cũng như những nguồn nước kia, cũng nảy sinh, lớn mạnh từ biển cả cuộc đời. Tiếng sóng thủy triều vẫn âm vang chuyên chở sóng biển đời thường mà vỗ về những trang viết miên man, vô tận. Tác phẩm văn học là sự kết hợp giữa khách quan, hiện thực, đời sống và chủ quan, tâm hồn, tình cảm, tư tưởng của người viết. Nhà văn không chỉ tái hiện lại những chi tiết của đời sống mà mình thấy được, qua đó còn muốn lên một điều gì mới mẻ, lớn lao hơn. Điều đầu tiên thu hút độc giả là sự chân thật, sự thật ấy nằm ở thực tế đời sống. “Một nhà văn không thành thực không bao giờ là nhà văn có giá trị. Nhưng không phải cử thành thực là trở nên nghệ sĩ.” (Thạch Lam). Dù văn học phản ánh hiện thực khách quan nhưng nó không bao giờ là bản sao chép nô lệ cho đời sống. Nhà văn không phải là một thám tử cuộc đời hay là kẻ lẽo đẽo chạy theo đuôi cuộc sống. Thông qua thế giới khách quan, nhà văn thâm nhập, cắt nghĩa hiện thực theo những tri nhận của riêng mình, từ đó nâng lên thành những giá trị có tính phổ quát. Vì vậy, nghệ thuật là hình ảnh của cuộc sống khách quan được phản chiếu qua đôi mắt chủ quan của người nghệ sĩ đa sầu, đa cảm, tinh tế, sâu sắc. Như Lê Ngọc Trà đã từng nhận định: “Nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói của tình cảm con người, là sự giãi bày và gửi gắm tâm tư.” Vết nứt của thế giới xuyên qua con tim nhà thơ; nỗi đau ấy khi đến với chúng ta đã nhuốm màu trái tim người nghệ sĩ. Từ tác phẩm nghệ thuật của nhà văn, độc giả hiểu thêm về bản chất của thời đại mà tác giả đang sống cùng những tư tưởng, triết lý được nhà văn chung đúc, tổng hợp nên. Đến với nền thơ Nhật Bản, Matsuo Basho cũng đã bảy tỏ niềm thương xót của mình trước những phận đời bơ vơ, bất hạnh:
“Mưa đông giăng đầy trời
Chú khỉ con thầm ước
Có một chiếc áo tơi.”
Chỉ với một số âm tiết ngắn gọn, cùng những khoảng lặng đặc trưng của thơ Haiku, Matsuo Basho đã vẽ nên cả một bức tranh hiện thực khốc liệt. Quý ngữ “mùa đông” gợi nên một khung nền khắc nghiệt, mưa là đói, là rét, là lạnh, là khổ. Giữa phông nền mưa rơi đó, “chú khỉ con” như hiện thân cho người dân Nhật Bản lúc bấy giờ, họ là những người nông dân nghèo đói, là những em bé cơ nhỡ co ro trong giá rét với mong ước nhỏ nhoi về “một chiếc áo tơi”. Hiện thực đời sống đã hiện lên hết sức cảm động qua cái nhìn, sự quan sát và đồng thời là sự rung cảm, đau xót của nhà thơ Basho khiến độc giả không khỏi rơi lệ. Không chỉ ở nền thơ Nhật Bản, trong trang thơ trung đại Việt Nam, đại thi hào Nguyễn Du cũng đã đưa giọt nước mắt của mình hòa lẫn vào hiện thực đời sống mà ông trình hiện. Mộng Liên Đường đã từng nhận định Nguyễn Du có “con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”. Con mắt đó, tấm lòng đó, đồng thời là sự trải nghiệm cuộc đời gian truân, đã đúc kết thành một trái tim nhân đạo vĩ đại, một trái tim yêu mãnh liệt, cảm thương sâu sắc cho nỗi khổ đau của con người:
“Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha
Lấy ai bồng bé xót xa
U ơ tiếng khóc xót xa nỗi lòng”
Trang “Văn tế thập loại chúng sinh”, Nguyễn Du đã cất lên tiếng khóc cao cả và vĩ đại cho những số phận bi thảm trong xã hội mục ruỗng bạo tàn, thậm chí đó là những đứa tiểu nhi “lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha”. Nhưng nhà thơ đã khóc cho những đứa trẻ chết yêu ấy như khóc những con người thực sự. Trái tim ông quặn thắt trước cuộc sống quá tàn nhẫn đã cướp các em đi khi chưa được nhìn thấy ánh mặt trời. thay những người cha, những người mẹ mất con mà đau thương nấc nghẹn trong tiếng khóc. Ông sống trong cõi sống mà dường như đã chìm hẳn vào cõi chết để tìm đến chia sẻ với trăm ngàn oan hồn bạc mệnh:
“Sống đã chịu một đời phiền não
Chết lại chờ hớp cháo lá đa.”
Nguyễn Du mang theo khối tình đau ấy suốt đời để mỗi lần cầm bút là một lần máu đỏ, để trang viết là trang nước mắt. Biết bao lần nhà thơ đã xót xa:
“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
Không phải tri nhận hiện thực như những gì nó vốn có, cái nhìn của nhà văn phải mang tính nhị nguyên xoay chuyển theo nhiều chiều và mang tính khách quan thông qua tư tưởng chủ quan. Người nghệ sĩ không chỉ nhìn bề ngoài của sự việc, nhìn thấy cái đẹp mà còn phải nhìn thấy mặt trong của vấn đề, nhìn cả cái xấu, cái ác, cái đau đớn của con người. Viết về “thế hệ đã qua” thời hậu chiến, Bảo Ninh cùng với “Nỗi buồn chiến tranh” của ông đã dẫn người đọc thấy rõ những nỗi đau tinh thần, những ám ảnh mất mát của những người lính những ngày sau giải phóng. Câu chuyện như tiếng gọi của quá khứ, của những con người đã nằm sâu trong lớp bụi của chiến tranh, của những mảnh đất khô cằn mà nhân vật Kiên đi qua, của những điều đã tắt nhưng vẫn còn sống mãi, âm ỉ mãi trong tâm trí của nhân vật chính. Đó là những đêm bừng tỉnh giấc trong cơn ác mộng kinh hoàng là những tiếng bom rơi đạn nổ, là dòng máu nóng chảy rát gương mặt cằn cỗi, sống hờ hững, vất vưởng như bóng ma của Kiên. Chiến tranh đã không chỉ là phép cộng của những con số người chết, của những tổn hại vật lý mà còn là nỗi đau di căn tới tương lai sau này của những con người từng sống trong khói lửa. “Nỗi buồn chiến tranh” đã phản ánh mặt sau đen tối của những cuộc chiến tranh vô nhân tính, dù là phe thắng, dù là phe chính nghĩa thì mất mát đau thương mà con người gánh chịu vẫn không hề ít đi. Diễn ngôn chấn thương đã đánh thức con người đang ngủ quên và lầm tưởng. Thông qua tư tưởng, tình cảm mãnh liệt của mình, người nghệ sĩ luôn làm hiện thực đời sống hiện lên sống động, chân thực hơn trên trang giấy. Hoài Thanh cũng quan niệm: “Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này nhưng thế giới trong con mắt nhà văn phải có một hình sắc riêng”.
Không chỉ phản ánh hiện thực thông qua sự tri nhận của riêng người nghệ sĩ mà thực tế đời sống đi vào trang văn còn được hình tượng hóa. Sự thống nhất của yếu tố khách quan và chủ quan trọng tác phẩm văn học thể hiện rõ trong hình tượng nghệ thuật. “Nhà văn chân chính” nào cũng có một thế giới riêng. Cái thế giới ấy là những hình tượng sáng tạo ra do nhân sinh quan và vũ trụ quan của nhà văn và phản ánh nên cái thực tế của thời đại. Tác phẩm văn học dù phản ánh đời sống chân thực, dù thể hiện tư tưởng tình cảm sâu sắc mãnh liệt nhưng nếu không xây dựng những hình tượng nghệ thuật sinh động, hấp dẫn thì vẫn không thể tồn tạo trong tâm trí người đọc. Hình tượng là kết tinh của những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời, từng làm nhà văn day dứt, trăn trở thôi thúc họ, tái hiện để chia sẻ với người khác. Những hình tượng ấy xuất hiện được là nhờ trí tưởng tượng của người nghệ sĩ; bằng trí tưởng tượng và tài năng của mình nhà văn nhào nặn các ấn tượng ấy truyền cho chúng linh hồn và sức sống. Trong hình tượng nhà văn không chỉ thuật lại, tả lại sự việc và con người mà còn cảm nhận, thâm nhập, suy đoán, phê bình, bình luận, khẳng định,… những điều ấy làm thành tính khái quát của văn học, giúp ta nhận thức được bản chất của cuộc đời và con người được phản ánh trong tác phẩm. Nói như Nguyễn Tuân, vốn thực tế càng nhiều thì sức hư cấu càng cao sâu, mà có hư cấu thì cái văn thơ ấy mới lớn, mới vượt được mức “nhiệt trình” mà thực sự đi vào ngưỡng cửa văn học. “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng thực sự là một tác phẩm văn học như thế, nó đã vượt qua cái mức “nhiệt trình” – chỉ ghi lại sự việc đơn thuần mà trở thành một điển hình nghệ thuật. Tất cả những chi tiết, những hình tượng nghệ thuật trong “Số đỏ” đã thành công theo dệt nên một bức tranh biếm họa châm biếm sâu cay. Một ông Tuýp – phờ – nờ luôn vì sự nghiệp Âu hóa nhưng lại cấm tiệt vợ và con ông mặc những sáng tạo của ông; một bà Văn Minh, ông “Phán mọc sừng” suy tính kiếm ăn trên xác chưa lạnh của người chết,… Hơn hết “Số đỏ” là câu chuyện của một tên lưu manh vô giáo dục lọt vào xã hội trưởng giả “thượng lưu” và nhanh chóng trở thành nhân vật lẫy lừng trong xã hội ấy – Xuân Tóc Đỏ. Do đâu mà Xuân Tóc Đỏ lại nhanh chóng đạt tới tột đỉnh vinh quang, từ một thằng ma cà bông lưu manh trở thành vĩ nhân, anh hùng cứu quốc, “vua biết mặt, chúa biết tên”? Điều đó một phần do Xuân Tóc đỏ luôn gặp may. Nhưng đằng sau – mắn ngẫu nhiên ấy, người ta còn thấy cái tất yếu mang tính quy luật. Thử hỏi, nếu như nhân vật Xuân Tóc Đỏ không có thói dâm ô bợm bãi thì làm sao lọt vào mắt xanh của bà Phó Đoan để bà tìm cách lôi nó ra khỏi cảnh sát? Nếu không có tài thổi loa quảng cáo thuốc lậu thì nó cũng không dễ cái may dàng gì thành công ở tiệm may Âu hóa. Hóa ra, cái bản chất lưu manh, vô lại, láu cá của Xuân Tóc Đỏ lại rất phù hợp với cái bản chất giả dối, bịp bợm, đồi bại của xã hội “thượng lưu” trưởng giả của chế độ thực dân phong kiến. Cái xã hội ấy chính là môi trường, hoàn cảnh thuận lợi để Xuân Tóc Đỏ có thể nhanh chóng phất lên như diều gặp gió, phát huy cao độ bản chất lưu manh, vô lại của mình. Những hình tượng nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng đã góp phần vạch trần một xã hội điêu trá, vô nghĩa lý mang danh văn minh Âu hóa.
Còn đối với hình tượng trong sáng tác của Thạch Lam, bạn đọc lại đau xót trước tiếng kêu đòi quyền hạnh phúc, quyền tự do cho con người của ông. Văn Thạch Lam như một thứ hương hoàng lan diệu kỳ được chưng cất từ những nỗi đời. Miêu tả về những cảnh đời khổ đau người ta thường xé toạc những vết thương rướm máu, thường kêu than thống thiết. Nhưng với cái nhìn của một nhà văn lãng mạn, Thạch Lam đã tìm thấy cả những vẻ đẹp khuất lấp nhỏ bé, bình thường thậm chí là tầm thường của những kiếp người ấy. Hình tượng hai đứa trẻ trong tác phẩm cùng tên của ông chính là một hình tượng như thế. Vẫn còn vang vọng đâu đây tiếng còi tàu hối hả và ánh nhìn trẻ thơ đau đáu từ bóng tối thăm thẳm dõi vào một tương lai rực rỡ mà xa xăm. Đó là ánh nhìn “lặng theo mơ tưởng” của Liên về một “Hà Nội xa xăm, Hà Nội rực rỡ, vui vẻ và huyện náo quá”. Hai chị em Liên và An như hai mầm xanh hy vọng trước thực tại cuộc sống tẻ nhạt, tù túng. Giữa cái bóng tối mịt mù của phố huyện, Liên và An như hai đốm sáng chông chênh của phận đời buồn thảm. Cuộc sống tù túng, tẻ nhạt như bóp nghẹt họ bằng sự vô nghĩa, sự vô nghĩa đó được hiều như đối lập giữa tiếng kêu than của con người và sự im lặng của xã hội. Thạch Lam xây dựng hình tượng hai đứa trẻ là để lên tiếng cho những phận đời buồn thảm, quẩn quanh, tù đọng. Ông mang ánh sáng đến cho những phận đời ấy, dẫu đó chỉ là chút thoáng qua của đoàn tàu, chút thoáng qua nhưng cũng đủ làm lấn át đi bóng tối, thứ bóng tối “nhẫn nhục và uất ức” (Ngô Tất Tố). Ánh sáng ấy soi rõ cả những vụn vỡ nát tan của tâm hồn con người khi đối diện với cuộc đời đầy bất công ngang trái.
Danh họa Pablo Ruiz Picasso từng phát biểu: “Tất cả chúng ta đều biết nghệ thuật là không thật. Nghệ thuật là một lời nói dối giúp chúng ta nhận ra chân lý”. “Lời nói dối” ấy chính là tính chủ quan của văn học, hiện thực đi vào văn học đã thông qua lăng kính của nhà văn, thấm đượm tư tưởng tình cảm của nhà văn và đã được hình tượng hóa. Đến với tác phẩm “Hóa thân” của Kafka, người đọc sẽ thấy rõ tư tưởng mang tính phổ quát của ông thông qua hình tượng nghệ thuật độc đáo. “Một buồi sáng thức dậy Gregor Samsa thấy mình biến thành một con bọ khổng lồ”. Cuộc biến hình ấy như một cú kích chạm trong trò Domino. Từ một trụ cột gia đình Gregor trở thành kể vô dụng, chịu sự cay nghiệt của người cha, sự ghẻ lạnh của người mẹ, sự chăm sóc hời hợt của cô em gái, sẵn sàng khinh thường anh khi anh không còn khả năng làm việc. Suốt thiên truyện dù biến thân nhưng Grego vẫn suy nghĩ như một con người, điều này dấy lên trong độc giả một nghị văn: Vì Gregor biến thành con bọ nên không thể làm việc, hay vì không thể làm việc mà trong mắt mọi người – anh trở thành một con bọ vô dụng, đáng sợ? Suốt hành trình là cuộc tìm kiếm nhân dạng trong vô vọng của Gregor. Vô vọng – vì ngay từ đầu anh đã đánh mất chính bản thân mình, cả nhân dạng và nhân tính khi sống cho người khác. Rốt cuộc là “hóa thân” hay “hóa tâm”. Người đọc lại trăn trở: con người sẽ được xem là con người khi nào? Sự thừa nhận này đến từ tự thân anh ta hay từ ánh nhìn của người khác. Từ đầu đến cuối Gregor vẫn suy nghĩ như một tâm tính người nhưng anh đã dần bị bẻ ngoặt thành con bọ bởi hình ảnh chiếu xạ từ đôi mắt của người khác. Tấm gương nhận diện này đã làm sụp đổ phần người còn sót lại trong anh.Kafka đã đặt ra bao nhiêu cái phi lý để dẫn đến trình diện cho người đọc cái triết lý ngay giữa cuộc đời.
Như vậy, văn học là sự thống nhất hữu cơ giữa hình ảnh chủ quan và thế giới khách quan. Văn học xuất phát từ hiện thực nhưng không sao chép đời sống, mang dấu ấn chủ quan nhưng không xuyên tạc sự thật. Mặc dù giống như các vị thần khổng lồ Antaeus không thể thoát khỏi đất mẹ Gaia, nhung những gì đi vào văn học đều phải được chắt lọc, gọt giữa, phân tích, đánh giá bởi tâm hồn và trí tuệ của nhà văn. Vậy nên dẫu những người nghệ sĩ sống trong cùng một bối cảnh xã hội, dẫu bề sâu hiện thực mà các nhà văn nắm bắt không nằm ngoài bản chất thời đại, nhưng mỗi người cầm bút ấy lại kiến tạo nên một tác phẩm khác nhau, vừa chung lại vừa riêng. Cái riêng ấy nằm ở cách nhìn, cách cảm hiện thực, cùng cách xây dụng thế giới nghệ thuật độc đáo tạo nên hai chữ “phong cách”. Nhà văn cũng vì vậy mà không ngừng trau dồi, quan sát thực tế đời sống, nâng cao, bồi dưỡng tâm hồn mình để mỗi trang viết đều thấm đượm những giá trị phổ quát vượt lên trên mức “nhật trình” mà đi vào ngưỡng của văn học thực sự. Người đọc khi bước vào ngưỡng cửa ấy cũng cần trang bị cho mình những kinh nghiệm, trải nghiệm, nâng cao tầm đón nhận để những tác phẩm thực sự có giá trị mãi vững bền trước dòng chảy vô tình của thời gian.
Chiếc gương; văn học sẽ mãi chạy dọc cuộc đời để lịch sử văn học là lịch sử tâm hồn con người. Nhưng chiếc gương sáng hơn cả, chân thực hơn cả vẫn luôn là chiếc gương tâm hồn người nghệ sĩ, dấu ấn chủ quan làm nên giá trị của thực tế khách quan.
(Phan Hà Vy, Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn – Đà Nẵng, Giải Nhì HSG Quốc gia năm 2023, Giải Ba HSG Quốc gia năm 2024)

























Thảo luận về bài viết này