“Làng này, vùng núi này, nơi không ai lui tới
Sẽ rất buồn nếu không buồn”
(Basho)
Là một thiền sư, song cuộc đời của Basho không bó hẹp trong không gian hữu hạn của chùa chiền mà cuộc đời của ông tựa như một lữ khách trong thời gian với những chuyến du hành không dứt bởi với ông, một vùng đất không ai lui tới là một điều đáng buồn. Trên khắp mọi miền đất xa xôi, ông thu lượm và gửi gắm những thâm trầm trong cuộc đời mình vào những tập kỉ hành hay những thi tập phân theo bốn mùa. Ông gửi lời vào sự sống, sự sống hóa thân thành những vần thơ theo suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Thấu rõ cái lẽ ấy, Nguyễn Đình Thi trong “Tiếng nói của văn nghệ” cũng từng bày tỏ: “Lời gửi của văn nghệ là sự sống”.
“Văn nghệ” là nghệ thuật nói chung, văn chương nói riêng, nhưng cũng là một tổ hợp “lời” được chọn lọc, tinh luyện từ đời sống. “Lời gửi” vừa chỉ mục tiêu hướng đến, vừa thể hiện đối tượng sáng tác, phản ánh của văn học. Người nghệ sĩ gửi tấm lòng mình, gửi mối ưu hoài, những thức nhận về thời đại vào văn chương. Và văn chương, từ những bưu kiện (mã hóa dưới dạng ngôn từ) được gửi đến lại trao truyền đến đời sống, tác động đến sự sống. “Sự sống” vừa chỉ những đối tượng có khả năng vận động, phát triển như vạn vật, thiên nhiên, môi trường, xã hội nhưng cũng vừa là tâm tư, tình cảm, nhận thức của người nghệ sĩ. Nhận định của Hoài Thanh ngắn gọn, giản dị nhưng đã thể hiện đặc trưng, chức năng của văn học: Văn học là tiếng nói của sự sống, người nghệ sĩ viết về sự sống từ đó hướng đến bảo vệ, chăm chút, nâng niu sự sống trong cõi sống này.
Sự sống là điểm xuất phát, đồng thời cũng là đích đến của văn học. Văn học hướng đến sự sống với cả những khả năng và nguy cơ, cả cơ sở thực tiễn và những dự đoán. “Lời gửi” của văn chương không bao giờ là sự phản ánh thụ động, đơn sơ, bề mặt mà bao giờ cũng là những nhận thức được đúc kết ở tầng sâu, không chỉ là sự vận động xuôi chiều mà bao gồm cả sự sống ẩn chứa sự chết, sự sống giả tạo, sự sống bị che khuất, sự sống đan xen với cuộc đời đa sự,… Văn chương góp một “lời gửi” đến sự sống cũng chính là góp một nhận thức mới, một cách nhìn sâu hơn trước cuộc đời từ đó đặt ra những câu hỏi, khai phá ra những nút thắt tồn đọng, bóc tách những giá trị bị che khuất. Sự sống trong cuộc đời được định nghĩa và giới hạn song sự sống trong văn chương lại luôn được thách thức. Với khả năng tái hiện cả những tầng vỉa phức tạp của hiện thực, văn chương thách thức sự sống, thách thức những gì được cho là đang sống, phân biệt sự sống và sự vận động thông thường. Định nghĩa lại sự sống, văn chương còn khơi dậy, ươm mầm những gì được cho là “sự chết”, hình thành môi trường cho mầm sống phát triển. Là một hình thái ý thức ý thức xã hội, văn học lấy sự sống làm trung tâm và lấy việc nâng cao sự sống trở thành mục tiêu cho quá trình sáng tác. Ý thức về sự sống đang chết dần, chết mòn, tàn lụi trong những vận động quán tính, thường nhật, lặp đi lặp lại, Hữu Thỉnh đã tái hiện con người hệt như những kí sinh đô thị đang bám víu lấy thời gian để sống:
“Buổi sáng lo kiếm sống
Buổi chiều tìm công danh
Buổi tối đem trí khôn ra mài rủa
Tỉnh thức
Những hàng cây bật khóc”
(Thương lượng với thời gian)
Vị thế của con người đã được dịch chuyển, từ chủ động sang bị động, từ điều khiển sang bị điều khiển. Con người tạo nên thói quen nhưng lại trở thành nô lệ của chính những thói quen mà mình đã tạo tác. Con người
làm những việc rất “người” của một sinh vật có tư duy: kiếm sống, tìm công danh, đem trí khôn ra mài rũa. Song ta không chủ động, ta bị động trước sự vận hành của thời gian: buổi sáng, buổi trưa, buổi tối. Thời gian vận hành theo chu kì, những buổi trong ngày đổi thay theo quán tính và ta bị kéo lê theo sự vận động thời gian bởi một dây cót mang tên thói quen. Gửi một lời đến sự sống, Hữu Thỉnh đã mượn hành động “bật khóc” của hàng cây. Tiếng khóc khắc sâu sự chuyển dịch trong ý thức hệ bởi giọt nước mắt lọc cho tâm hồn người trong trẻo lại, giúp những rung động – thứ bấy lâu bị mài trơ trên vệt đường của văn minh khẽ ngân lên. Sự tỉnh thức xuất hiện đột ngột trong quy trình sự sống cũng được Italo Calvino khắc họa như thể hiện mong ước về một “tia chớp” sẽ thật sự lóe lên trong cuộc đời. Trong tác phẩm “Tia chớp”, nhân vật “tôi” đi giữa cuộc đời, giữa những cột đèn và giao thông tấp nập, giữa “cõi người ta” đã được định hình và sắp đặt để rồi bất chợt một tia chớp lóe lên. Nhân vật bỗng chốc nghi hoặc tất thảy sự vận động có ý thức của đời sống, bất thỏa hiệp với “cõi người ta” mà bản thân đã bị “ném” vào khi sinh ra, phủ định tất thảy: “Dường như có điều gì đó sai bét. Tất cả đều sai bét. Chúng ta đang làm những việc vô nghĩa nhất”. Nhưng cũng như hàng cây tỉnh thức rồi òa khóc trong bất lực, tia chớp lóe lên trong tâm trí con người rồi nhanh chóng vụt tắt. Con người lại tiếp tục xuôi theo những vận động quán tính của buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, con người lại tiếp tục tuân theo sự sắp đặt của cõi người ta. Trở thành tiếng nói, thậm chí là tiếng kêu cứu của sự sống, văn chương tác động đến con người tựa như một “tia chớp”, lóe lên một nhận thức mới, một nhận thức sâu hơn để bắt đầu một hành trình bất tận vươn tới cõi toàn thiện của con người.
Với một lòng “kính ngưỡng sự sống” (Nguyễn Huy Thiệp), tiếng nói của sự sống cũng chính là những suy tư, trăn trở, tình cảm của người nghệ sĩ. Trước đời sống muôn trùng và biến động luôn luôn, người nghệ sĩ không bao giờ an phận trong những khái niệm và định nghĩa. Trong vận động chung của sự sống, người nghệ sĩ sẽ luôn là người âm thầm ở phía sau dõi theo những sự sống bị quên lãng, chà đạp, những sự sống đang ngụy trang để che giấu sự chết, khám phá, phát hiện những sự sống nhỏ nhoi, yếu ớt,… Với “con mắt nhìn thấu sáu cõi”, khả năng nhận thức nhạy bén, tinh tế, người nghệ sĩ không hòa chung vào dòng chảy của thời đại mà luôn để tâm vào những khoảng tối, góc khuất, ngõ hẹp. Hay nói cách khác, người nghệ sĩ hướng đến sự sống theo hướng mặt trái của đa số và sự tồn đọng của thiểu số. Tầm nhận thức của nhà văn về sự sống sẽ không nằm trong vùng an toàn được số đông vạch ra, quy định mà luôn hướng đến một chiều hướng khác, một cách nhìn khác mới hơn, cảm thông hơn, nhân văn hơn, người hơn. Một người nghệ sĩ chân chính sẽ day dứt khi sự sống đang bưng mủ, nứt nẻ, tàn lụi mà tựa như một y sĩ về tâm hồn, luôn khao khát cứu chữa, hướng đến một sự thay đổi tốt đẹp hơn. Hướng đến sự sống không phải là hướng đến một đối tượng nằm ngoài nhà văn mà đôi khi hướng đến chính nhà văn với những mối hỗn độn không thể sắp xếp. Giải quyết lòng mình, tham gia vào hành trình bất tận hướng con người trở về đúng chữ người, đó chính là cách người nghệ sĩ cất tiếng thay cho sự sống. “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư là bản báo cáo đầy đủ và sinh động về thực trạng nhiễm phèn, ngập mặn của sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là những cánh đồng bất tận trải dài. Tình cảnh thiếu nước sạch của những con người vùng sông nước được diễn tả mới thật xót thương và đau đớn. Con người ta vì thiếu nước mà trở nên cạn tình, cạn nghĩa, Nương sẵn sàng từ bỏ một mối tình khi hình dung mình sẽ phải san sẻ với hai gàu nước ít ỏi của mẹ chồng. Con người ta cũng vì thiếu nước mà ước ao trở nên bé mọn và tù túng đến nỗi “ước sao từ giờ đến lúc chết được tắm một bữa cho đã đời”. Thiên nhiên là nơi cư trú hoàn toàn của gia đình Nương và loài vật là môi trường xã hội. Nương giao tiếp với Điền bằng những vang âm đặc biệt của trái tim và phương tiện giao tiếp ấy cũng đưa họ kết nối với loài vịt. Nương và Điền tìm đến loài vịt sau khi đã bị loài người chặt cõi lòng ra thành trăm mảnh với hi vọng xã hội loài vịt sẽ không làm họ đau. Ở một khía cạnh nào đó, loài vịt là một loài đầy nhân tính và biết yêu thương. Phần người bị mờ hóa, bị vượn hóa thành phần con trong khi đó, vịt thì lại được nhân hóa để hiểu người, để nói chuyện với người, thông cảm cho người. Nguyễn Ngọc Tư đã diễn giải tình thương mà Nương và Điền dành cho loài vịt bằng một nguyên do giản đơn đến bất ngờ: “chắc tại cái đầu vịt nhỏ quá nên chỉ đủ cho yêu thương”. Đặt con vật cao hơn con người – ở khía cạnh tình thương cũng chính là khi Nguyễn Huy Thiệp viết về hình ảnh ông Diểu trong nỗi ghen tị, hờn trách đối với hai con khỉ luôn không ngừng quấn lấy bảo vệ nhau một cách bền bỉ và cao thượng. Thế giới loài người tàn nhẫn và vô nhân tính đến nỗi, ông Diểu đã mất lòng tin vào đức hi sinh cao cả nên khi chứng kiến cảnh con cái bền bỉ cứu con đực, “hành động hy sinh thân mình của con khỉ cái làm ông căm ghét”, ông “thấy bị xúc phạm ghê gớm”. Sự liều lĩnh và bất chấp vì đồng loại của con cái khiến ông Diểu phần vừa bất lực, phần vì hổ thẹn trước trái tim săn mồi sắt đá, thực dụng của bản thân mình. Con khỉ đực trong niềm hân hoan của ông Diểu chỉ là một con mồi phải đến một yến thì trong niềm mong mỏi của con cái là tất cả mà nó sẵn sàng bất chấp và hi sinh. Thiên nhiên được khắc họa trong “Muối của rừng” và “Cánh đồng bất tận” đều là môi trường sinh thái đang dần bị tàn phá, hủy diệt bởi khái niệm “nhân tạo”. Trong “Cánh đồng bất tận”, tình trạng xâm nhập mặn được nhà văn Nguyễn Ngọc Tư phản ánh cụ thể và chua xót khi hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn, … Con người hiện lên là nạn nhân của khủng hoảng sinh thái khi liên tục phải hứng chịu sự tàn bạo của tự nhiên: “Họ đi mua nước ngọt bằng xuồng, chèo, nín thở để khỏi sánh ra ngoài, … tụt xuống ao tắm táp thứ nước chua loét vì phèn, rồi xối lại đúng hai gàu. Nước vo cơm xong dùng để rửa rau, nước rửa rau xong dành để rửa cá”. Trong khi đó nhân vật Diểu cùng biết bao những người đi săn khác, lại là nguyên nhân gây ra tình trạng khủng hoảng sinh thái. Chi tiết chú khỉ con ôm cây súng lao xuống vực như một sự phản kháng gay gắt của thiên nhiên trước hành vi vô nhân tính của con người. Chú khỉ con như một thế hệ tươi trẻ của thiên nhiên, như một sứ giả nhỏ bé của thiên nhiên đang nỗ lực thức tỉnh nhân tính người trong con người.
“Muối của rừng” khép lại bằng hình ảnh đẫm chất thơ khi ông Diểu trần truồng bước ra khỏi khu rừng trong cảnh sắc tuyệt đẹp của thiên nhiên tựa như hình ảnh Adam và Eva hay cũng chính là những con người cổ đại sống chan hòa không vách ngăn với thiên nhiên. Thiên nhiên và ông Diểu lúc này được khắc họa trong mối quan hệ song song, đồng đẳng, thay vì nhìn nhận con người như một giống loài biệt lệ có quyền trừng trị, cai quản thiên nhiên. Nương trong “Cánh đồng bất tận” cũng sống giữa thiên nhiên, dường như đã bị “thiên nhiên hóa” đến nhớ “người”. Cánh đồng bất tận ngập mặn váng phèn đã cùng Nương rong ruổi khắp bao năm tháng lênh đênh, đã từng được cô đặt cho những cái tên, ghi dấu những kỉ niệm. Nhưng cuối cùng, Nương trong trạng thái trần truồng lại ngập nguội trong chính những cánh đồng ngập mặn, váng phèn ấy. Những cánh đồng bất tận hình thành nên cô nhưng không cứu nổi cô, không nâng đỡ nổi cô, ngược lại vùi cô vào đáy sâu của niềm đau và bất hạnh. Hướng đến sự sống bằng sự tôn trọng, xót thương, văn nghệ trở thành tiếng nói sâu lắng nhất của sự sống từ đó dẫn dắt con người đến với sự sống, hòa hợp với tự nhiên. Văn chương chỉ có thể trở thành tiếng nói của sự sống bản thân người nghệ sĩ phải thực sự sống sâu với cuộc đời. Sự sống mà văn chương khai thác là sự sống đã được chắt lọc, nhận thức ở tầng sâu chính vì thế một nhân sinh quan hời hợt, đơn giản không thể chạm tới. Người nghệ sĩ phải có những quan sát cẩn thận, kĩ lưỡng, chân thật phải không ngừng tìm tòi, lấy trăn trở làm động lực cho quá trình sáng tác. Đồng thời, một nhận thức mới, một nhận thức khác về đời sống còn cần rất nhiều bản lĩnh để trở thành một tiếng nói đại diện cho sự sống. Người nghệ sĩ cất tiếng thay cho sự sống với một nhân sinh quan mới mẻ, độc đáo luôn cần rất nhiều thời gian để chinh phục thói quen, quán tính của đám đông. Bởi thế mà, tâm, tầm của người nghệ sĩ còn cần cả sự bản lĩnh, kiên trì để được đón nhận và chấp thuận bởi thời đại. Song song với đó, người đọc cũng cần cởi mở hơn trong cách tư duy, tiếp nhận những vấn đề liên quan đến đời sống, xã hội. Người đọc cần bám vào những thông điệp, “lời gửi” sâu thẳm của nhà văn đằng sau câu chữ để cảm nhận đầy đủ, sâu sắc nội dung, giá trị tác phẩm.
Để văn nghệ có thể trở thành lời gửi của sự sống, có thể hướng đến sự sống còn rất cần “sự chuyển phát” của nghệ thuật. Những suy nghĩ, tình cảm của người nghệ sĩ chỉ thực sự có giá trị và chuyển đến suy nghĩ, tình cảm của bạn đọc khi được trao gửi dưới một mã kí hiệu phù hợp, một hình thức nghệ thuật tinh luyện, đặc sắc.
Ở một góc độ khác, chu trình nghệ thuật chỉ thật sự hoàn thiện khi bao gồm cả lời gửi và lời hồi đáp. Lời gửi của văn nghệ là sự sống nhưng bản thân sự sống (xã hội, người tiếp nhận, bạn đọc tinh hoa) cũng cần hồi đáp, đối thoại với người nghệ sĩ. Trước cách nhìn nhận về sự sống của Vũ Đình Liên: khước từ thực tại, chối bỏ sự đổi thay, phát triển, Xuân Diệu đã viết bài thơ “Vội vàng” để hồi đáp với bài thơ “Ông đồ”. Vũ Đình Liên hướng về những giá trị cổ truyền, xưa cũ, nhặt nhạnh cánh hoa tàn của một thời vang bóng, bởi thế mà bài thơ “Vội vàng” với lời đề từ “Gửi tặng Vũ Đình Liên” như một cách hồi đáp của Xuân Diệu, thể hiện cách nhìn về sự sống hướng đến thực tại, cho thực tại. Mỗi nhà văn sẽ gửi lời cho sự sống theo cách khác nhau, với những nội dung khác nhau, nhưng đó không phải là những “bức thư gửi vào hư vô” mà là những tấm lòng luôn mong ngóng được đón nhận, hồi đáp.
Hơn nữa, người nghệ sĩ chỉ sáng tác dựa trên “cái tâm” mang tên sự sống thôi thì chưa đủ. Với trí tưởng tượng phong phú, đa dạng, người nghệ sĩ còn phải hướng tới cả những đối tượng không hiện diện, không tồn tại, những đối tượng nằm trong dự đoán, thông qua đó, quay trở về tác động đến sự sống một cách sâu sắc hơn. Khi sáng tạo tác phẩm “Frankenstein hay Prometheus thời hiện đại”, Mary Shelley đã xuất phát từ những rắc rối của khoa học lúc bấy giờ khi thực hiện một hành vi trái tự nhiên: thay đổi quy luật sống – chết từ đó sáng tạo nên cả một con quái vật ghê sợ để dự báo tương lai. Tác phẩm được sáng tác dựa trên 80% trí tưởng tượng của nữ nhà văn nhưng vẫn hướng đến sự sống, hướng đến gửi gắm một bức thông điệp nhân văn: tôn trọng quy luật của tự nhiên. Đồng thời con quái vật Frankenstein được Shelley sáng tạo còn thách thức định nghĩa “người” đơn thuần khi một cá thể mang đầy đủ những yếu tố của một con người lại không được chấp thuận như một con người. Những nhân vật tưởng tượng của người nghệ sĩ thách thức sự tồn tại của những sự vật đang sống, khiến con người không ngừng trăn trở, băn khoăn về những định nghĩa sẵn có. Hành trình mà mỗi người nghệ sĩ phải trải qua có thể không gian nan, khổ ải như hành trình du hành từ bờ Tây đến Sarashina như của Basho song đó nhất định phải là cuộc hành trình dấn thân, trải nghiệm, không chỉ sống lâu mà còn phải sống sâu với sự sống. Đã có một khoảng thời gian, Basho quyết định đóng cửa sống trong cô tịch song dẫu vậy, cuộc đời và thơ ca của ông vẫn hướng đến karumi (phong thái ung dung, nhẹ nhàng để cảm nhận vẻ đẹp thanh thoát trong cô tịch). Dù sống giữa hiện thực, trong hiện thực hay tách biệt với hiện thực, người nghệ sĩ luôn vẫn luôn hướng đến sự sống để sáng tác, vẫn trở thành tiếng nói cất lời thay cho sự sống.

























Thảo luận về bài viết này