Nhà văn Nguyễn Trường Tam cho rằng: “Những người ý tứ tầm thường là muốn cho câu văn mình khúc khuỷu, để cho người đọc thật khó hiểu. Những người có ý tứ sâu xa lại cố làm cho văn thật vắn tắt, giản dị để người đọc đến đâu dễ hiểu ngay”. Văn học là nghệ thuật của ngôn từ, là sự sáng tạo ngôn ngữ qua các bàn tay “phù thủy”, vậy nó phải siêu thường mới đúng, cớ sao lại đề cao sự giản đơn? Phải chăng lời tâm sự của nhà văn Pháp Albert Camus chính là lời giải đáp: “Đối với tôi, nghệ thuật không phải là một lạc thú để hưởng một mình, nghệ thuật không thể là một cuộc độc thoại”.
Con người là tạo vật kỳ diệu bậc nhất của tạo hóa. Theo tháp nhu cầu (Maslow’s hierachi of needs), nhu cầu của con người chia làm hai nhánh: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs). Nhu cầu cơ bản là những nhu cầu về thể chất, nhu cầu bậc cao nằm ở tinh thần. Để đáp ứng nhu cầu về thẩm mỹ, tình cảm, để “tâm hồn cũng được ăn uống”, “nghệ thuật” ra đời. Đó là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng – thẩm mỹ, mang tính chất văn hóa làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức. Trong bảy lĩnh vực nghệ thuật chính, có lẽ Albert Camus nói đến tác phẩm văn chương nghệ thuật. Ông cho rằng nghệ thuật là “lạc thứ” – thú vui, nghệ thuật không khiến thân phàm xác tục của ta no ngay nhưng ngân lên trong lòng khoái cảm thẩm mỹ khi được thưởng thức một câu văn hay, một cách diễn đạt mới mẻ. Nhà văn Nam Cao qua lời nhân vật Hộ đã phát biểu về lạc thú ấy: “Tôi cho rằng: những khi được đọc một đoạn văn như đoạn này, mà lại hiểu được tất cả cái hay, thì dẫu ăn một món ăn ngon đến đâu cũng không thích bằng. Sướng lắm!”. Lạc thú trào lên từ sóng bút, song lại chẳng phải để “hưởng một mình”, chẳng của riêng tác giả cũng chẳng của riêng ai. Từ tư tưởng tuyệt luân mà cô độc của tác giả, nghệ thuật khi đến tay độc giả (bước cuối cùng để hoàn thành quá trình sáng tác) bỗng thoắt hóa thành một cuộc đàm tình đối thiết, cuộc đối thoại đa thanh giữa độc giả và tác giả hay giữa độc giả với chính bản thân mình về đời về người… Albert Camus đã khẳng định đặc trưng, tính chất, ý nghĩa và yêu cầu của nghệ thuật trong quá trình tiếp nhận.
Có thể nói, tâm hồn của con người là một cái vực còn sâu hơn cả cái vực của tự nhiên. Nhìn vào đại thể, chỉ thấy bình lặng vô ba, sóng yên gió nhẹ, đi qua đoạn trường lang hun hút mới thấy nhật nguyệt chẳng yên, quần sơn vần vũ. Kính viễn vọng Hubble có thể nhìn xa 12 tỉ năm ánh sáng, nhưng có loại kính nào đo được những diễn tiến bí mật của tâm hồn? Văn học ra đời trước hết là để bộc lộ những nỗi niềm riêng tây kín khuất, là tiếng đàn của Bá Nha đi tìm một Tử Kỳ. Nói như Rasul Gamzatov: Tâm hồn tôi còn ẩn náu sâu hơn, kín đáo hơn những cái xương, cột sống, lá phổi của tôi. Nhưng những tia sáng của thơ ca chiếu rọi và mỗi một rung động nhỏ trong tôi trở thành cái mọi người đều biết. Tâm hồn như đặt trong lòng bàn tay trần và mọi người có thể nhìn thấu qua tôi. Đến đây mối tồn nghi về lời quả quyết của Nguyễn Trường Tam đã rõ: cần vắn tắt, giản dị để uốn cho thẳng con đường từ trái tim đến trái tim, để tấm lòng mình được hiểu, được biết chứ không muôn đời cô tịch. Và chính những cảm xúc thầm kín cuồn cuộn như nước triều đông này làm nên “lạc thứ” cho tác phẩm. Không cần lời lẽ mỹ miều, chỉ hai tiếng “Cha ơi” của Marius đã gọi về tình yêu (Những người khốn khổ – Victor Hugo), hai tiếng “Cải ơi” của người cha gọi con cũng đủ khiến độc giả nghẹn ngào (Cải ơi – Nguyễn Ngọc Tư). Nó vượt qua mọi đỉnh nhọn của âm thanh, khắc cốt minh tâm trong lòng độc giả lời đối thoại về tình cảm gia đình. Nỗi xúc động cao đẹp ấy chính là lạc thú, là khoái cảm hướng con người tới chân, thiện, mỹ, một phút xao lòng không của riêng ai. Và nếu được kết hợp với một hình thức nghệ thuật độc đáo, khoái cảm ấy lại càng ngân lên thánh thót. Những vần thơ Xuân Diệu chính là sự sáng tạo đột khởi của sục sôi, của một tâm thế sống không chịu thằng người đợi chờ cái chết, không mặc cho hoa nhạt hương phai mà dám đoạt quyền hóa công, “tắt nắng”, “buộc gió” để níu giữ vẻ đẹp cuộc sống. Xuân Diệu đã đối thoại với bạn đọc bằng tình yêu sống nồng nàn tha thiết đắm say, lòng ngây ngất tột bậc thấm qua từng câu chữ. Sánh bên vị ngọt tình yêu ấy là niềm vui thích khi đến với những quan niệm mĩ học mới mẻ, những hình ảnh thơ độc nhất vô nhị đáng chép vào cuốn “song vô phả”: “tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, “lá liễu dài như một nét mi”… Nhà thơ không dùng mật mã để riêng mình hiểu hay cho riêng ai hiểu, đệ nhất tình nhân sảng khoái tung hô cho muôn người biết tới, giục giã mọi người cùng chung bàn tiệc trần gian.
Và “dù anh viết xuôi viết ngược như thế nào, dù cho anh viết về sự giận dữ, về lòng căm thù, về nỗi đau khổ, chán chường thì rốt cuộc cũng để truyền thổi vào giữa tâm hồn người đọc một niềm tin vào cuộc sống, một tình yêu bát ngát đối với cuộc sống” (Nguyễn Minh Châu). Chức năng của văn học là giáo dục, tình cảm thôi là chưa đủ, tình cảm ấy phải là tình cảm của những tư tưởng, chân lý vĩnh hằng. Đó là sứ mệnh của văn học muôn đời, là “thanh nam châm thu hút mọi thế hệ”. Những ngụ ý khuyến giới (khuyên răn) không trực tiếp, giáo điều mà được thể hiện gián tiếp. Lí luận hiện đại cho rằng tác giả mã hóa tác phẩm, còn độc giả là người giải mã. Quá trình mã hóa – giải mã này thực chất chính là một cuộc đối thoại ngầm. Tác giả đưa ra những dấu vết mã hóa và độc giả tìm tới tầng nghĩa cuối cùng – lời tác giả. Dấu vết mã hóa lớn nhất, không thể bỏ qua chính là nhân vật, đối thoại với tác giả trước hết là đối thoại với nhân vật, giải mã tác phẩm trước hết phải giải mã được nhân vật bằng cách lặn dọc lặn ngang vào những hình ảnh, chi tiết đắt giá, đan sự việc từng mắt một và tìm ra tâm nhụy của bông hồng vàng. Bản thân quá trình kiếm tìm đầy trăn trở ấy đã là lạc thú, kết quả nó mang lại càng khiến lòng người ngây ngất say mê.
Nói đến một cuộc đối thoại dân chủ giữa nhà văn – bạn đọc, không thể bỏ quên “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. Theo chân nhân vật Phùng, hiện ra trước mắt độc giả là một cảnh đắt trời cho: “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ.” Đây là chất thơ của tác phẩm, ta vẫn thường hay bắt gặp những cảnh thiên nhiên thi vị như thế. Đó là cảnh đêm trăng trong “Chí Phèo” của Nam Cao, là đường lên Sa Pa trong “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, là những vì sao trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Pháp Alphonse Daudet. Thưởng ngoạn “mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông” từ xưa đã là thú vui tao nhã, “cái đẹp chính là đạo đức” thanh lọc cho tâm hồn trong vắt tinh khôi. Cảnh đẹp ấy có thể nhà văn từng chứng kiến, hoặc chỉ trong mộng tưởng, song rốt cuộc không thể phủ nhận nó đem đến sự thư thái cho lòng người, một chút nghỉ chân giữa trần ai loạn thế, biết đâu còn làm sực tỉnh những người đang điêu đứng trăm chiều, khổ vì danh lợi, đưa ta về với những giá trị đích thực của cuộc sống, nó là lạc thú. Lạc thú ấy không dưng mà có, tác giả vẽ bằng ngôn từ, độc giả nhìn vào ngôn từ và tưởng tượng. Nhà văn đã “không hưởng một mình” (viết ra, viết một cách dễ hiểu), không để tác phẩm thành “một cuộc độc thoại” (bởi không nói về những vui thú mang tính cá nhân tầm thường mà nói về giá trị cốt lõi muôn đời của tâm hồn). Song nếu vì sùng bái thiên nhiên mà lãnh đạm với chuyện thiện ác ở đời thì cái đẹp có còn là chân lý? Chính Nguyễn Minh Châu từng khẳng định: “Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người.” Trung tâm của bức tranh văn học là con người. Nói đến cảnh chỉ vì cảnh làm đẹp cho hồn người, chứ không thể chỉ vì cảnh đẹp mà trở thành khán giả bàng quan của những cảnh đau xót trên đời — một trạng thái siêu đẳng bệnh hoạn. Cảnh bạo lực gia đình phía sau con thuyền đẹp như mơ không thể gọi là lạc thú, không ai có thể vui trước cảnh bạo hành tàn nhẫn ấy, song ta vẫn có được niềm vui của người lữ hành đi tìm chân lý. Qua phát hiện của mình, dường như nhân vật Phùng đã gửi tới chúng ta triết lý: “Sáng và tối là một, trong và đục cùng nơi, tròn và méo tương hình” (Nam Hoa Kinh), cuộc đời đa sự, thiện và ác luôn tồn tại với nhau như hai mặt đối lập của một thể thống nhất, bên cạnh hạnh phúc có bóng dáng khổ đau. Nói cho công minh thì Phùng không có tư tưởng, nhờ Nguyễn Minh Châu thổi tư tưởng của mình vào mà có tư tưởng, trò chuyện với Phùng tức là ta đang trò chuyện với nhà văn, nhờ đó nhận thấy điều nhà văn luôn tâm niệm: “Sáng tác văn học là hành trình đi tìm những hạt ngọc ẩn trong bề sâu tâm hồn con người.” Một nghịch lý trải ra trước mắt Phùng: người đàn bà thà đi tù chứ không chịu bỏ gã chồng vũ phu. Hóa ra đằng sau người đàn bà xấu xí, nhẫn nhục tưởng như nhu nhược lại là viên ngọc tròn trịa ánh ngời của tình yêu thương con, lòng vị tha, đức hi sinh, bởi “đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như trên mặt đất được”. Không đơn thuần chỉ là đối thoại, Nguyễn Minh Châu còn dẫn độc giả cùng “đi tìm những hạt ngọc” với mình. Đó là chuyến hành trình tuyệt vời, bởi không những đích đến của nó là cái đẹp, mà khi dấn thân trên con đường đó, tự con người ta cũng trở nên đẹp với tinh thần nhân đạo. Hoàn toàn có thể gọi đó là lạc thú.
Đối thoại với tác giả chỉ là một phía, hơn tất cả, độc giả phải đối thoại với chính bản thân mình, bởi xét cho cùng, quá trình đến với văn học, tận hưởng những nét đẹp nghệ thuật cũng là để đính thêm cho tâm hồn nhiều viên ngọc quý. Mục đích của văn học là “giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy sinh ở con người những khát vọng hướng tới chân lý” (M.Gorki). Điều này hoàn toàn khả thi, bởi văn học bắt nguồn từ đời sống, “mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời” (Tô Hoài). Mỗi tác phẩm văn chương là một con đường để ta đi rộng hơn, sâu hơn và chính cuộc sống của mình chứ không phải đi phiêu lưu ở những phương trời nào vô định. Trong đó ít hay nhiều ta sẽ thấy bóng dáng của ta. Ta nhớ lại có lúc mình từng mơ mộng, ngờ nghệch đáng cười như Don Quijote, có lúc mong muốn được chu du khắp bốn phương trời đất như cậu bé Remi hay trở thành phù thủy như Harry Potter. Ta băn khoăn không chắc chắn liệu trong tình thế của Jean Vanjean mình có cao thượng được như vậy hay chăng, hay trước hoàn cảnh của Pavel, mình có đủ quyết tâm giựt tung vòng đai thép?
Khác với Nam Cao đi sâu vào những giằng xé trong thế giới nội tâm, lạc thú của Thạch Lam là nắm bắt những trạng thái tâm lý tinh vi diệu vợi. “Không hưởng một mình”, Thạch Lam đã đưa chúng vào trang giấy để đối thoại cùng bạn đọc. Nếu nhà văn Mạc Ngôn gắn bó với quê hương đông bắc Cao Mật, nhà thơ Rausul Gamzatov yêu tha thiết vùng núi Dagestan, thì phố huyện Cẩm Giàng cũng trở thành không gian nghệ thuật quen thuộc trong văn Thạch Lam. Trong “Hai đứa trẻ”, phố huyện nghèo nàn tù túng như số phận của những con người ở nơi đây. “Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì có thể dùng được của các người bán hàng để lại.” Chúng khổ vì chính cha mẹ chúng cũng khổ. Chị Tí ngày mùa cua bắt tép, tối đến dọn hàng nước, gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu mãi chưa có khách nghe, bà cụ Thi lảo đảo đi lần vào bóng tối… Những con người hết sức bình thường, không có cái mặt quỷ dữ của Chí Phèo, cái tài của Huấn Cao, cái kịch tích của “Giông tổ”, thế mà ở đấy, ở đấy mới chính là sự sống. Ta bần thần tự soi chiếu vào cuộc sống của chính ta, liệu có phải quanh ta là vô vàn những kiếp người như thế, nhưng trên đường đời ta vội lướt qua nhanh. Chỉ khi được nhà văn soi chiếu, mới hay trong những người xa lạ kia cũng đủ hết mọi buồn vui. Lạc thú ở đây là lạc thú thâm nhập sâu vào đời sống, đến tầng cảm xúc mong manh nhưng chân thực đến tài tình, từ nét buồn lãng mạn đến tình cảm tinh tế trong trẻo trước quê hương, từ nỗi sợ rất tự nhiên của trẻ thơ đến nỗi nhớ mong, háo hức. Những dòng cảm xúc ấy như khúc Werber u buồn và kỳ diệu chảy trong huyết mạch của áng văn, và chừng nào con người vẫn còn xúc cảm, thì tác phẩm vẫn còn được ghi trên đài vẫn thiên cổ. Và cái đẹp ngời sáng nhất Thạch Lam muốn độc giả cùng thưởng thức ở đây chính là những ước mơ, hi vọng. Sáng tạo ra cảnh chờ tàu cuối truyện không phải là một sự ngẫu nhiên, tình cờ, được đánh rơi ở đấy. Đoàn tàu từ Hà Nội về, đoàn tàu mang đến biết bao nhiêu âm thanh: tiếng còi xe, tiếng xe rít mạnh vào ghi, tiếng hành khách ồn ào khe khẽ, mang đến biết bao nhiêu ánh sáng đối lập với sự đìu hiu của phố huyện nghèo, mang tới thế giới của sự huyên náo giàu sang. Chị em Liên cổ thức chờ tàu, ngày này qua ngày khác, dù sau khi đoàn tàu đi qua, phố huyện lại trở về tịch mịch đầy bóng tối, hai đứa trẻ vẫn không nguôi hi vọng. Còn ta thì sao? Một ngày gặm nhấm quá khứ, một ngày lưỡng lự đắn đo, thấy khó thì nản, thất bại thì buông, hi vọng nhạt nhòa, ước mơ trống rỗng? Soi chiếu vào mình, độc giả tự cảnh tỉnh bản thân khỏi lối sống mơ màng tiêu cực. Đó chính là sự tự thức tỉnh, phương sách giáo dục đắc dụng nhất.
Cũng cần phải nói thêm rằng trong cả tác phẩm không một lần nào tác giả viết rằng tôi muốn nói thế này, tôi muốn nói thế kia. Vẫn biết độc giả ngầm đối thoại với tác giả qua một hệ thống kiến giải, nhưng liệu có phải lúc nào cũng đạt được sự nhất trí? Khi những manh mối tác giả đưa ra còn mơ hồ, những giá trị của tác phẩm vẫn còn chìm trong đỉnh núi mù sương huyền bí, rất có khả năng giữa độc giả và độc giả sẽ có một cuộc đối thoại nảy lửa. Câu hỏi cuối cùng cho “Đây thôn Vĩ Dạ” vẫn còn đó. Ngay từ câu mở đầu phân thành ba luồng ý kiến:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”
Người thứ nhất cho rằng đây là lời mời của một người xứ Huế thậm chí là của Hoàng Cúc tha thiết mong Hàn Mặc Tử về thôn Vĩ dạo chơi. Người thứ hai lại nói đây là lời nhà thơ phân thân tự hỏi mình. Đó là biểu hiện của khát khao thoát khỏi cái lãnh cung định mệnh, tục huyền lại với cuộc đời. Lại có người gạt phăng hai ý trước, khẳng định đây chỉ là cái cớ dẫn đến cuộc hành trình trở về thôn Vĩ dù chỉ trong tâm tưởng. Cuộc tranh luận chưa tới hạ hồi, câu thơ cuối khổ đã đưa ra một vấn đề mới:
“Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”
Vậy mặt chữ điền là khuôn mặt đàn ông hay phụ nữ, khuôn mặt người xứ Huế hay Hàn Mặc Tử? Dĩ nhiên tạ cũng chẳng thể hỏi Hàn Mặc Tử được, nên cuộc đối thoại cứ tiếp diễn mãi. Và hẳn rằng lạc thú Hàn Mặc Tử nghĩ tới trong quá trình sáng tác chỉ có một, vậy nghĩa là khi phân tích, mỗi người thấy một lạc thú khác nhau. Tác phẩm vừa là nó, vừa không còn là nó, nó đã trở nên thú vị gấp vạn lần. Sáng tạo là quá trình tiếp nối giữa nhà văn – tác phẩm – độc giả, có những lúc chính tác giả sau khi đối thoại với độc giả đã sửa lại tác phẩm của mình, như Nguyễn Tuân đã cắt đoạn cuối của “Chữ người tử từ” hay thêm hai phần “Dựng” và “Mưỡu cuối” cho “Chùa Đàn”.
Vấn đề mới đặt ra là tác phẩm đối thoại ở thời này sang thời khác liệu có trở thành độc thoại hay không? Tư tưởng, thẩm mỹ mỗi thời mỗi khác nên thái độ tiếp nhận thay đổi là chuyện bình thường. “Truyện Kiều” khi xưa có người coi là áng dâm thư, rồi sau mới được trả về đúng vị trí của mình, những con chữ châu ngọc bị thời đại bể dâu vùi dập, nào vì phải cổ nhân không biết đâu là đẹp, là lạc thú? Song tư tưởng cũ khó lòng chấp nhận một cô gái như Kiều, và ngược lại, tư tưởng “bó thân về với triều đình” thời trước là hợp lý, thời nay lại trở thành một hạn chế. Mở ra là triều đại “Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”, kết thúc lại là thắng lợi của Hồ Tôn Hiến, sự nghiệp của Từ Hải là một con sóng, dù dữ dội đến mấy, cuối cùng mặt nước vẫn lại trở về tù đọng lưu niên. Tư tưởng “chữ tài liền với chữ tai một vần” cũng vậy. Nó có thể là định lệ của thời trước, nhưng lại là sự phi lý đời sau. Nhưng đâu thể vì thế vội thẳng tay chỉ trích, như câu “hồng nhan bạc phận” đâu phải một thành ngữ để thở than, bốn chữ đó là tổng kết kinh nghiệm hàng ngàn năm sự đời dưới chế độ phong kiến. Vậy độc giả muốn tận hưởng lạc thú, muốn đối thoại với tác giả thì phải đặt tác phẩm vào thời đại nó ra đời. Và để tác phẩm của mình trải tinh hoa năm tháng, tắm thử thách xuân thu vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, thì người cầm bút phải hướng đến những giá trị, chân lý vĩnh hằng. Như Victor Hugo đã nói: “Nếu một nhà văn chỉ viết cho thời đại của mình thì tôi sẽ phải bẻ bút và vứt nó đi.” Nguyễn Du cất tiếng nói về quyền sống chính đáng của con người, nhất là người nghệ sĩ, cất tiếng gọi tri âm tri kỷ:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
Nên dẫu qua hàng trăm năm, câu hỏi vẫn có lời hồi đáp:
“Số phận người xưa anh ước mơ
Rõ ràng trước mắt chẳng còn ngờ
Ba trăm năm… tính chưa đầy nửa
Cả cuộc đời nay hiểu Tố Như.”
(Huy Cận)
Trước một tác phẩm, chớ nên im lặng!
Ai cũng biết rằng sự ồn ào hay tĩnh tâm đều có khả năng làm cho tiếng đời lăn náo nức – Đời văn nghệ!























![[Mở bài - Kết bài] Kết cấu đầu cuối tương ứng áp dụng văn học sử vào NLVH](https://hocvan.edu.vn/wp-content/uploads/2024/06/mo-bai-ket-bai-ket-cau-dau-cuoi-tuong-ung-ap-dung-van-hoc-su-vao-nlvh-120x86.jpg)

Thảo luận về bài viết này