CĂN NHÀ XƯA
căn nhà xưa
mái ngói đổ rêu
mẹ ngôi lựa rau muống bán chợ chiều
đàn vịt chao chát kêu hoàng hôn tắt nắng
mùi bùn dậy ngợp vai ủ dưa môn
cha gánh nước đổ đầy chum
tôi và đứa em trai múc nước xối mát chiều gió
Căn nhà xưa
tiếng chó sủa trăng mờ mờ ngọn đèn bà thắp
chị ngồi nghiêng đầu luồn sợi chỉ khâu chiếc quần rách đáy em tôi
Căn nhà xưa
mưa dột khói hong bếp bồ hóng
tiếng rắn rít trong cái lạnh lúc giao mùa
giàn mướp bông vàng ong bầu lượn tới
anh tôi đi đặt bẫy chồn về trong cơn rét mướt
núi đồi đổ bóng xuống làng
đêm nằm nghe mối gặm trần nhà rệu rạo
căn nhà xưa
giờ là một miền tịch lặng trong ký ức
chúng tôi những thằng bé tát cá ngoài đồng
nằm mơ thấy chiếc roi mẹ vừa vụt hụt
giữa trưa hè khói rạ đốt đồng
phả vào mênh mông…
– Nhiên Đăng –
Bài làm
Trong hành trình tinh thần của nhân loại, nghệ thuật luôn hiện diện như một nhu cầu thiết yếu, giúp con người vượt lên khỏi đời sống thuần túy vật chất để chạm đến những giá trị tinh thần sâu xa. Bởi thế, có ý kiến cho rằng: “Nghệ thuật là lĩnh vực đặc biệt của việc sáng tạo và thể hiện cái đẹp.” Nhận định ấy không chỉ khẳng định bản chất thẩm mĩ của nghệ thuật mà còn đề cao vai trò sáng tạo độc đáo của người nghệ sĩ trong việc phát hiện, chưng cất và làm hiển lộ vẻ đẹp của đời sống. Qua bài thơ “Căn nhà xưa” của Nhiên Đăng, ta càng thấy rõ hơn ý nghĩa xác đáng của quan niệm này, khi từ những hình ảnh bình dị, thân thương của một mái nhà quê cũ, tác giả đã dựng nên một thế giới thấm đẫm vẻ đẹp của ký ức, của tình người và của nghệ thuật ngôn từ.
Nghệ thuật, trước hết, là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt. Nếu khoa học đi tìm chân lí bằng lí trí thì nghệ thuật khám phá thế giới bằng cảm xúc và hình tượng. Nghệ thuật không dừng lại ở việc sao chép hiện thực mà tái tạo hiện thực qua lăng kính tâm hồn người nghệ sĩ. Vì thế, cái đẹp trong nghệ thuật không phải là cái đẹp thô ráp, nguyên sơ của đời sống, mà là cái đẹp đã được lựa chọn, nâng niu, gọt giũa. Cái đẹp ấy có thể là vẻ đẹp của thiên nhiên, của con người, của tình cảm; cũng có thể là vẻ đẹp của chính hình thức biểu đạt – của nhịp điệu, ngôn từ, cấu trúc. Nhận định trên vì vậy đã nhấn mạnh chức năng thẩm mĩ của văn học: sáng tạo và thể hiện cái đẹp, làm giàu thêm đời sống tinh thần con người.
Từ góc độ sáng tác, lao động nghệ thuật là một hành trình tìm kiếm và kiến tạo cái đẹp. Nhà văn không bê nguyên đời sống vào trang viết mà phải chọn lọc, sắp đặt, làm cho những chi tiết tưởng chừng vụn vặt trở nên có ý nghĩa. Từ góc độ tiếp nhận, văn học nuôi dưỡng năng lực cảm thụ thẩm mĩ, giúp con người biết rung động trước những điều bình dị. Khi đọc một tác phẩm hay, ta không chỉ hiểu hơn về cuộc sống mà còn biết yêu hơn, trân trọng hơn những gì tưởng như rất đỗi quen thuộc. Bài thơ “Căn nhà xưa” của Nhiên Đăng là một minh chứng thuyết phục cho điều ấy.
“Căn nhà xưa” – nhan đề giản dị mà gợi bao hoài niệm. Điệp ngữ “căn nhà xưa” được lặp lại như một tiếng gọi tha thiết, như nhịp đập khôn nguôi của ký ức. Không gian ấy hiện lên với “mái ngói đổ rêu”, “mưa dột khói hong bếp bồ hóng”, “mối gặm trần nhà rệu rạo”. Đó không phải là một ngôi nhà khang trang, đủ đầy; trái lại, là một mái nhà nghèo, cũ kĩ, in hằn dấu vết thời gian. Nhưng chính trong cái nghèo ấy, cái cũ ấy lại ẩn chứa một vẻ đẹp khác, vẻ đẹp của thân thương và gắn bó. Nghệ thuật đã làm nên điều kì diệu: biến những chi tiết thô mộc của đời sống thành những hình ảnh gợi cảm, giàu sức ám ảnh.
Bức tranh thiên nhiên làng quê trong bài thơ cũng mang một vẻ đẹp mộc mạc mà sinh động. “Đàn vịt chao chát kêu hoàng hôn tắt nắng”, “giàn mướp bông vàng ong bầu lượn tới”, “núi đồi đổ bóng xuống làng”, “khói rạ đốt đồng phả vào mênh mông”… Những hình ảnh ấy không chỉ tái hiện không gian mà còn gợi cả âm thanh, màu sắc, chuyển động. Ta nghe được tiếng vịt kêu, tiếng chó sủa, tiếng rắn rít; ta nhìn thấy màu vàng của bông mướp, làn khói mờ bảng lảng giữa trưa hè. Tất cả tạo nên một bức tranh quê đầy sức sống. Cái đẹp ở đây không phải vẻ đẹp tráng lệ mà là vẻ đẹp chân thực, gần gũi, thứ vẻ đẹp chỉ có thể được phát hiện bởi một tâm hồn gắn bó sâu nặng với quê hương.
Đặc biệt, bài thơ tỏa sáng bởi vẻ đẹp của những con người trong gia đình. Người mẹ “ngồi lựa rau muống bán chợ chiều”, một hình ảnh gợi bao nhọc nhằn mà cũng chan chứa yêu thương. Người cha “gánh nước đổ đầy chum”, dáng hình lặng lẽ mà vững chãi. Người chị “nghiêng đầu luồn sợi chỉ khâu chiếc quần rách đáy em tôi” – một cử chỉ nhỏ bé nhưng đong đầy tình thương. Anh trai “đi đặt bẫy chồn về trong cơn rét mướt”, lũ trẻ “tát cá ngoài đồng”… Từng mảnh ghép đời thường ấy đã hợp thành bức tranh gia đình ấm áp. Không có những lời lẽ hoa mĩ, không có những tuyên ngôn lớn lao, nhưng qua những chi tiết cụ thể, tình thân hiện lên sâu sắc và cảm động. Nghệ thuật ở đây chính là khả năng làm bật lên cái đẹp của tình người từ những điều giản dị nhất.
Nếu chỉ dừng lại ở việc kể lại kỉ niệm, bài thơ sẽ không vượt qua ranh giới của một câu chuyện hồi ức. Nhưng bằng cảm xúc chân thành và giọng điệu trữ tình sâu lắng, Nhiên Đăng đã thổi vào “căn nhà xưa” một linh hồn. Đến khổ cuối, khi “căn nhà xưa giờ là một miền tịch lặng trong ký ức”, ta chợt nhận ra tất cả chỉ còn tồn tại trong miền nhớ. Nỗi nhớ ấy không ồn ào mà thấm thía. Hình ảnh “chiếc roi mẹ vừa vụt hụt” trong giấc mơ gợi cả sự nghiêm khắc lẫn yêu thương. “Khói rạ đốt đồng phả vào mênh mông” như kéo dài không gian ký ức đến vô tận. Cái đẹp của bài thơ vì thế không chỉ nằm ở cảnh và người mà còn ở chiều sâu cảm xúc, ở tình yêu quê hương, gia đình tha thiết và bền bỉ.
Về phương diện nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu chậm rãi, phù hợp với dòng hồi tưởng. Ngôn ngữ mộc mạc, giàu tính khẩu ngữ tạo cảm giác chân thật, gần gũi. Sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình giúp bài thơ vừa cụ thể vừa giàu cảm xúc. Điệp ngữ “căn nhà xưa” không chỉ tạo kết cấu vòng tròn mà còn khắc sâu hình ảnh trung tâm, làm cho toàn bộ tác phẩm như xoay quanh một điểm tựa ký ức. Chính sự sáng tạo trong hình thức ấy đã làm nên vẻ đẹp riêng của bài thơ, khẳng định nghệ thuật là quá trình lao động nghiêm túc và tinh tế.
Qua “Căn nhà xưa”, ta hiểu rằng cái đẹp không phải lúc nào cũng rực rỡ, lộng lẫy. Đôi khi, cái đẹp nằm trong mái ngói rêu phong, trong tiếng mối gặm trần nhà, trong dáng mẹ lựa rau chiều muộn. Nghệ thuật đã phát hiện và nâng niu những vẻ đẹp ấy, giúp chúng vượt qua sự tàn phai của thời gian để sống mãi trong tâm hồn người đọc. Nhận định “Nghệ thuật là lĩnh vực đặc biệt của việc sáng tạo và thể hiện cái đẹp” vì thế hoàn toàn xác đáng.
Với người nghệ sĩ, bài thơ gợi nhắc rằng muốn sáng tạo cái đẹp, cần sống sâu với đời, gắn bó với những gì bình dị nhất. Với người đọc, tác phẩm nhắc ta biết trân trọng ký ức, biết tìm kiếm và gìn giữ cái đẹp trong cuộc sống thường ngày. Bởi lẽ, khi tâm hồn biết rung động, mỗi mái nhà xưa đều có thể trở thành một miền thương nhớ.
Bằng cảm xúc chân thành và bút pháp mộc mạc mà tinh tế, Nhiên Đăng đã biến “căn nhà xưa” thành biểu tượng của ký ức, của tình thân, của quê hương. Qua đó, bài thơ đã minh chứng hùng hồn rằng nghệ thuật thực sự là lĩnh vực đặc biệt của việc sáng tạo và thể hiện cái đẹp – cái đẹp của đời sống được soi chiếu qua ánh sáng của tâm hồn và tài năng người nghệ sĩ.

























Thảo luận về bài viết này