💖HocVan.Edu.Vn
  • Trang chủ
  • Học văn THCS
    • Học tốt Ngữ văn 6
    • Học tốt Ngữ văn 7
    • Học tốt Ngữ văn 8
    • Học tốt Ngữ văn 9
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
  • Học văn THPT
    • Học tốt Ngữ văn 10
    • Học tốt Ngữ văn 11
    • Học tốt Ngữ văn 12
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
Không tìm thấy
View All Result
💖HocVan.Edu.Vn
  • Trang chủ
  • Học văn THCS
    • Học tốt Ngữ văn 6
    • Học tốt Ngữ văn 7
    • Học tốt Ngữ văn 8
    • Học tốt Ngữ văn 9
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
  • Học văn THPT
    • Học tốt Ngữ văn 10
    • Học tốt Ngữ văn 11
    • Học tốt Ngữ văn 12
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
Không tìm thấy
View All Result
💖HocVan.Edu.Vn
Không tìm thấy
View All Result

Thà phải tìm hiểu sự thật suốt đêm còn hơn nghi ngờ nó suốt đời

in Bài văn học sinh giỏi
0 0
0
Thà phải tìm hiểu sự thật suốt đêm còn hơn nghi ngờ nó suốt đời

Thà phải tìm hiểu sự thật suốt đêm còn hơn nghi ngờ nó suốt đời

Bài làm số 1

Nếu như trong cuộc sống, C. Mác khuyên ta hãy biết hoài nghi tất cả thì khi đọc một tác phẩm văn học, ta có phải hoài nghi không? Khi mà những nhân vật, thôi câu chuyện của họ, ta gấp sách lại và an tâm rằng thế là mình đã biết hết; liệu thế có được chăng? Tất nhiên là không rồi, vì khi tác phẩm kết thúc, ấy là lúc cuộc sống của nó mới thực sự bắt đầu.

Ngay từ xưa, Hê-ghen trong Triết học tinh thần đã yêu cầu việc xem xét tác phẩm trong hệ thống “tác giả – tác phẩm – người đọc” vì ông cho rằng sự tồn tại của tác phẩm chỉ tồn tại trong ba yếu tố quan hệ hữu cơ với nhau ấy thôi. Còn người Trung Quốc xưa, lại cho rằng tác phẩm tồn tại trong lòng của người tri kỉ chứ không trên trang giấy; vì thế việc viết văn là việc của tấm lòng. Lí luận hiện đại lại cho rằng, tác giả “mã hoá” văn bản và người đọc là người “giải mã” nên tác phẩm là sự “tập hợp các dấu vết mã hoá”. Vậy thì cuối cùng, vấn đề thực sự của lí luận tiếp nhận là gì, và tại sao tác phẩm chỉ sống khi dấu chấm hết văn bản xuất hiện?

Tác phẩm văn học là một văn bản ngôn từ. Nhưng đặc trưng của ngôn từ là tính mơ hồ đa nghĩa nên người ta gọi tác phẩm văn học là một “văn bản mở”. “Văn bản mở” nghĩa là tác phẩm gồm hai phần: “phần cứng” là những con chữ bề mặt văn bản đang nằm im, “phần mềm” là hệ thống tư tưởng, ý nghĩa được xuất hiện trong quá trình tiếp nhận. Vì thế, cái gọi là “tác phẩm văn học” chỉ thực sự tồn tại khi nó biến thành cái “phần mềm” kia, còn nếu không nó trở thành “quyển sách”. Mà rõ ràng, ý muốn của nhà văn là truyền đến bạn đọc những lẽ sống của đời chứ không phải để bán sách.

Chính vì thế, tác phẩm chỉ thực sự tồn tại khi người ta ý thức được về nó mà thôi. Người đọc là người cứu tác phẩm ra khỏi hầm mộ của sách, giúp nó sống lại và bước đi giữa cuộc đời và hồn người. Cảm kích trước tấm lòng bạn đọc, tác phẩm tái sinh trong lòng họ, và ban cho họ những xúc cảm thẩm mĩ riêng biệt. Vì thế, mỗi tác phẩm là một tiếng mời gọi tha thiết tấm lòng bạn đọc đến với mình, tri âm với mình để mình có được một đời sống mới. Tác phẩm không phải một thứ giáo điều được định trước mà nó thẩm thấu vào tâm hồn bạn đọc bằng chính tình yêu thương mà độc giả dành cho nó. Sức sống của tác phẩm không nằm ở lối ra lệnh của nhà binh hay truyền giáo của tu sĩ mà nằm ở trường nhìn, trường cảm của từng cá nhân đọc khác nhau.

Ta cũng biết, tác phẩm là một “ảnh”, một “phiên bản” của hiện thực đời sống nên nó không bao giờ trùng khít với đời sống, nhất là các tư tưởng, các luật lệ ngoài đời. Vì thế để xác định các “luật” trong tác phẩm, giữa người đọc và tác giả có một “quy ước ngầm” với nhau về sự “như thật” của tác phẩm. Chính sự “quy ước” ấy là sự tương thông giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận mà khi chuyển hoá qua văn bản nó tạo ra sức sống cho tác phẩm. Ngẫm ra, tuỳ từng tư tưởng, kinh nghiệm, thẩm mĩ của mỗi độc giả mà sự “quy ước” ấy cao thấp khác nhau, và cũng vì thế tác phẩm có muôn ngàn cuộc sống khác nhau. Bởi vậy, tác phẩm vừa là nó, vừa chẳng là nó. Sự thú vị trong đa dạng tiếp nhận cũng chẳng kém sự thú vị trong đa dạng sáng tạo. Vì thế sức sáng tạo của nhà văn, qua bạn đọc cứ nhân lên đến vạn lần. Và thế là nghệ thuật có sự sống vĩnh hằng vì nghệ thuật có hai con đường: sáng tạo và đồng sáng tạo.

Nhưng “quy ước” sự sống kia lại có vấn đề: liệu cái rung động đời này có làm xúc động thời khác không. Ta vẫn biết trường tư tưởng, trường thẩm mĩ của mỗi thời mỗi khác nên sự cảm hiểu của một cá nhân, một cộng đồng có thể thay đổi liên tục là bình thường. Cứ lấy Đôn Ki-hô-tê làm ví dụ. Người Tây Ban Nha gọi chàng là kẻ điên rồ, người Pháp gọi là chú hề đáng thương, các môn đệ của chủ nghĩa lãn mạn gọi Đôn Ki-hô-tê là người anh hùng còn sót lại, còn chủ nghĩa hiện thực lại có là biểu tượng của sự suy vi một thời phong kiến đã qua. Vậy rõ ràng, những mê trường văn hoá khác nhau tạo ra những “phạm trù hiểu” không cùng hướng. Vậy thì sự “đúng – sai” trong “quy ước” có làm tổn hại sự sống tác phẩm không? Lí luận xư “đổ lỗi” cho người đọc vì họ coi văn bản là “mẫu mực”, nhưng lí luận hiện đạ không cho như vậy vì họ coi tác phẩm có rất nhiều “khoảng trống” cần được bù lã bởi cảm quan riêng của độc giả. Ta coi tác phẩm như cái đài nhiều dải tần, ai thích nghe sóng nào thì nghe, nhưng phải bắt đúng dải sóng nếu không chỉ có tạp án thôi. Vì thế, sự “đúng – sai” trong tác phẩm là quy luật nội tại tất yếu của văn học nó chỉ thúc đẩy sự sống của tác phẩm trường tồn mà thôi. Vậy thì lịch sử văn học xét đến cùng, là lịch sử sáng tạo và tiếp nhận văn học.

Nói đến lí luận tiếp nhận ứng vào thực tế văn chương ở Việt Nam, tôi nhớ đến bài thơ Văn cảnh trong Ngục trung nhật kí của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người ta đã tốn hàng bao nhiêu giấy mực để bàn cãi về một chữ “lưỡng” trong bài thơ. Đây là t chìa khoá để khai mở bài thơ. Xuân Diệu coi “lưỡng” ở đây là hai sự vô tình khép kín một đời hoa, còn Trần Đình Sử coi “lưỡng” là phó từ, còn chủ ngữ hàm ẩn”quyế định nghĩa” bài thơ là người tù Hồ Chí Minh tự trách mình vô tình. Thú vị nhất là Nguyễn Khắc Phi khi đưa ra quan niệm “lưỡng vô tình” là sự trôi chảy liên tục, bã biến của thời gian đã làm cho người tù bất bình. Giáo sư đã dùng văn học so sánh để chứng minh đầy thuyết phục nhưng cũng chẳng bác bỏ được hai luận điểm trên Thế mới biết, cái sức sống thanh xuân của Bác truyền cả vào bài thơ, làm cho người ta nghĩ suy không dứt lẽ đời, về việc hành xử với cái đẹp. Khi bài thơ kết thúc, có là Người cũng không thể ngờ sức sống của nó còn mãnh liệt hơn hoa hồng, “hương thơ” nhờ lòng độc giả mà bay khắp nhân gian. Còn riêng tôi, tôi vẫn cho rằng giáo sư Nguyễn Khắc Phi đúng, nhưng tầm kiến thức hạn hẹp chẳng thể chứng minh nổi theo cách của mình.

Lí luận văn học đi từ tác giả (phê bình tiểu sử) đến tác phẩm (thi pháp học, giải cấu trúc) rồi đến độc giả (phê bình “cái đọc”). Rõ ràng đó là một con đường nhận thức dài của nhân loại. Nhưng có một điều không đổi thay là tấm lòng bạn đọc dành cho tác phẩm mãi mãi vĩnh hằng. Dù ngày nay có tiểu thuyết “đa cốt truyện” nhưng những kiệt tác xưa cứ mãi mãi tồn tại vì đã nhập hồn, hoá thân vào độc giả mất rồi.

Bài làm số 2

Câu hỏi cuối cùng cho thế giới vẫn còn đó
(Anh-xtanh)

Nói đến C. Mác và F. Ăng-ghen là nói đến hai vị lãnh tụ tinh thần tối cao của phong trào vô sản thế giới, và cũng là nói đến một đôi bạn thiên tài. Ở họ có rất nhiều tư tưởng chung mà tư tưởng về sự nhận thức là một trong số đó. F. Ăng-ghen có phương châm: Thà phải tìm hiểu sự thật suốt đêm còn hơn nghi ngờ nó suốt đời, còn C. Mác thì thích câu châm ngôn: Hoài nghi tất cả. Có lẽ ta sẽ tìm thấy trong lời hai bậc vĩ nhân chân lí về việc nhận thức của con người.

Nhận thức là việc tìm tòi, khám phá thế giới vạn vật xung quanh ta, hay đi sâu vào kho tàng nhân loại để tìm những chân trời tri thức. Rộng hơn, nhận thức là sự hấp thụ những tinh hoa kiến thức nhân loại, tạo ra nguồn nội lực bản thân để có thể vươn tới chân lí vĩnh hằng. Chính vì vậy, Ăng-ghen khuyên ta tìm hiểu sự thật suốt đêm là muốn ta không ngừng nhận thức những quy luật của vạn vật, của vũ trụ. Nhưng điều quan trọng là sự nhận thức có đứng yên không, liệu có cái gọi là “chân lí cuối cùng” không? C. Mác lại tiếp tục khai sáng cho ta một con đường nhận thức: Hoài nghi tất cả.
Hoài nghi là một phương thức phủ định triết học; người biết hoài nghi là người luôn nhìn sự vật ở quy luật duy vật biện chứng, tức là không có gì đứng yên; luôn có sự thay đổi tương đối về chất và lượng trong chúng. Vì vậy sự hoài nghi là một bước phát triển cao hơn của nhận thức; là khả năng nhìn nhận sự vật ở bề sâu, bề rộng nội tại của nó. Trên lập trường mác-xít, C. Mác đã nhận ra: Hoài nghi tất cả là một phương diện triết học của mình.

Nhưng vì sao ta luôn phải nhận thức và hoài nghi trong cuộc sống? Không cần phải là nhà triết học, bạn cũng thấy vũ trụ này rộng lớn đến thế nào. Có không biết bao nhiêu điều cần khám phá, cần khai mở mà ta chưa nhận thấy. Tất cả đã ở bên ta rồi, chỉ có điều ta chưa khám phá ra mà thôi. Chỉ cần đi sâu vào một lĩnh vực khoa học, người ta cũng thấy hàng trăm mối quan hệ phức tạp giữa nó và các bộ môn khác. Thế giới này như một mê lộ của tri thức; nếu như ta không liên tục nhận thức để tìm đường ra, đến với những chân trời mới thì ta cứ đi lạc mãi mà thôi. Đến Niu-tơn, một nhà bác học uyên thâm, am hiểu sâu rộng nhiều lĩnh vực từ toán học, vật lí đến triết học, thiên văn học… cũng chỉ dám nhận mình là hạt cát trước đại dương mênh mông tri thức nhân loại. Chính sự trái ngược giữa kho tàng tri thức khổng lồ với sự hạn hẹp của tầm nhận thức cá nhân con người đã thúc đẩy loài người liên tục tìm về phía trước để vươn tới những phát kiến mới. Nếu không khao khát nhận thức cái mới, thì cái lâu đài văn hoá suốt hàng vạn năm của nhân loại không chóng thì chầy sẽ đến ngày sụp đổ. Vì thế, có thể coi nhận thức không ngừng là một tín ngưỡng căn bản của loài người.

Nhận thức không ngừng vẫn chưa đủ. Ngày nay, chúng ta sống trong một xã hội biến đổi như vũ bão từng phút, từng giây, nên “thoả mãn tức là chết”. Mới mấy chục thế kỉ mà bộ mặt thế giới thay đổi không biết bao nhiêu lần. Từ lửa đến bom nguyên tử, từ giáo mác đến đại bác…. những vườn địa đàng đã biến mất; con người bị thần thánh bỏ rơi giữa cái hỗn mang cuộc sống. Họ chỉ còn biết không ngừng lao động và sáng tạo để cải biến cuộc sống này ngày một tốt đẹp hơn. Trong mười năm, ti vi từ màn hình lồi sang màn hình tinh thể lỏng chẳng phải minh chúng đó sao. Dòng lịch sử luôn có những biến thiên vĩ đại mà cá nhân không cưỡng lại nổi; vì thế mỗi người phải luôn thay đổi, luôn hoài nghi những cái cũ để tiến kịp bước nhân loại. Sự hoài nghi ở đây đồng nghĩa với sự tiến bộ tất yếu của lịch sử. Và thế giới “hậu hiện đại” ngày nay đang là sự hỗn loạn những tư tưởng. Người ta còn đòi “phản tự sự” để lập ra học thuyết “không cái gì hết”. Thật đáng buồn biết bao khi họ biến hoài nghi thành một sự phủ định vô căn cứ. Vì thế, bạn ơi, hãy biết hoài nghi nhưng đừng bi quan để hoài nghi không biến thành phá hoại hoặc thúc thủ bó tay hay biến mình thành “kẻ ghét đòi”.

Sự nhận thức của ta trước thế giới được biểu hiện như thế nào? Điều đó tuỳ thuộc mỗi cá nhân. Nhưng ở ai cũng vậy, muốn nhận thức được phải thay đổi nguồn nội lực của mình trước đã. Phải không ngừng trau dồi năng lực, nâng cao từ duy,… mới có đủ tâm thế để nhận thức xung quanh. Nhớ khi xưa, Vương Dương Minh bỏ mười năm đọc sách chỉ để nâng cao tri thức đến mức tìm hiểu ra “cách vật’ mới thôi. Nay, ở những công ty liên doanh, không có trình độ vi tính, ngoại ngữ,… thì tấm bằng chuyên môn của anh cũng bỏ đi. Thế mới biết, nâng cao nội lực quan trọng thế nào. Sau khi nhận thức lại chính mình, ta lại phải thay đổi nhận thức, phải “hoài nghi” để phù hợp với xung quanh. Cứ nhìn việc nước ta gia nhập WTO là ta đã hiểu rõ việc hoài nghi chính mình quan trọng thế nào. Các doanh nhân, các nhà lãnh đạo biết phải dẫn con tàu đất nước theo những con đường quanh co, khúc khuỷu của toàn nhân loại, chứ nhất quyết không đi theo con đường đơn tuyến của một nước Việt Nam. Trong thời buổi toàn cầu hoá này, biết rõ đâu bạn đâu thù là điều kiện tiên quyết để kinh tế nước nhà đi lên.

Là người công dân của nước Việt Nam, tôi biết rõ trách nhiệm đang đè nặng lên đôi vai mình. Nhưng “vui gì hơn làm người lính đi đầu”, tôi sẽ không ngừng trau dồi bản thân và học theo những tinh hoa văn hoá thế giới để cùng toàn dân tộc bước vào kỉ nguyên ánh sáng.

Ngoài ra, tôi còn muốn đi theo con đường nghiên cứu văn học. Không chỉ học văn như trên ghế nhà trường, tôi tự biết mình phải nỗ lực không ngừng mới theo kịp bước tiến của văn chương thế giới. Tôi đọc Pa-víc, Oe Ken-za-bu-zô, Am-bét-tô E-cô, Ốc-ta-vi-ô Pát, Mi-lan Kun-do-ra,…. để hiểu những tác gia quan trọng đường thời; cũng như đọc thuyết giải cấu trúc, nhân học tưởng tượng, phân tâm học, kí hiệu học,… để biết được phê bình – lí luận thế giới đang diễn tiến thế nào. Ngoài ra, tôi còn muốn mình phải hiểu thêm triết học, mĩ học, ngôn ngữ học, xã hội học,… để “hiện đại hoá” cái tầm vóc tí hon của mình trước bước đi vĩ đại của văn chương thế giới. Trước mắt tôi là con đường sương mù, nhưng tôi biết mình phải đi, chẳng còn nghi ngờ gì nữa.

Đề-các nói: Tôi tư duy túc là tôi tồn tại, nhưng sự tư duy của ta đã là gì với tri thức ngoài kia. Vì thế, C. Mác và Ăng-ghen khuyên ta đừng bao giờ biết thoả mãn về nhận thức. Ngày mai thế giới này sẽ thế nào? Ai mà biết được. Và bạn ơi, chỉ mình bạn mới có thể trả lời được câu nói ấy mà thôi vì bạn là một thực thể biết hoài nghi và quan trọng hơn bạn biết trả lời bằng cách của mình thế nào. Và bạn ơi, có một lời khuyên chân thành dành cho bạn: Hãy chỉ tin vào những gì mình thực nghiệm được. Hay nói như An-đơ-rễ Gi-đơ: Dọc xong sách của tôi, hãy quẳng nó đi.

Ai biết được ngày mai thế giới sẽ thay đổi vì bạn?

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Trên khối đá từ ngữ anh bắt đầu đục đẽo những chữ tượng thanh, những chữ tượng hình
Bài văn học sinh giỏi

Trên khối đá từ ngữ anh bắt đầu đục đẽo những chữ tượng thanh, những chữ tượng hình

Thơ là nữ hoàng nghệ thuật
Bài văn học sinh giỏi

Thơ là nữ hoàng nghệ thuật

Nhà thơ chính là con ong hút nhụy từ những bông hoa của cuộc đời
Bài văn học sinh giỏi

Nhà thơ chính là con ong hút nhụy từ những bông hoa của cuộc đời

Những truyện ngắn hay thường gắn với thơ
Bài văn học sinh giỏi

Những truyện ngắn hay thường gắn với thơ

Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi cuộc sống
Bài văn học sinh giỏi

Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi cuộc sống

Đọc thơ là hành vi thân mật. Lắng nghe nhạc điệu của nhận thức, của lòng mình, là hành động trung tâm của việc đọc thơ
Bài văn học sinh giỏi

Đọc thơ là hành vi thân mật. Lắng nghe nhạc điệu của nhận thức, của lòng mình, là hành động trung tâm của việc đọc thơ

Bài viết mới
Kỹ năng vàng: Xác định cốt truyện và tóm tắt tác phẩm

Kỹ năng vàng: Xác định cốt truyện và tóm tắt tác phẩm

Cách làm dạng câu hỏi: Lý giải tình cảm, thái độ của tác giả hoặc người kể chuyện với một nhân vật trong văn bản

Cách làm dạng câu hỏi: Lý giải tình cảm, thái độ của tác giả hoặc người kể chuyện với một nhân vật trong văn bản

Bật mí công thức viết đoạn văn phân tích/đánh giá hình ảnh nổi bật trong bài thơ

Bật mí công thức viết đoạn văn phân tích/đánh giá hình ảnh nổi bật trong bài thơ

Thảo luận về bài viết này

TIP VIẾT VĂN HAY

Phương pháp và kỹ năng phân tích chi tiết trong tác phẩm truyện

Phương pháp và kỹ năng phân tích chi tiết trong tác phẩm truyện

Phân tích truyện ngắn "Gió thổi suốt đêm" của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Phân tích truyện ngắn “Gió thổi suốt đêm” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Phân tích, đánh giá nét đặc sắc nội dung và nghệ thuật của bài thơ “Khoảng trời yêu dấu” - Nguyễn Khoa Điềm

Phân tích, đánh giá nét đặc sắc nội dung và nghệ thuật của bài thơ “Khoảng trời yêu dấu” – Nguyễn Khoa Điềm

Hướng dẫn viết đoạn văn đánh giá mạch trần thuật: Ngắn gọn mà sâu sắc

Dàn ý viết đoạn văn (200 chữ) phân tích/ đánh giá mạch trần thuật

Tổng quan về truyện ngắn: Nghệ thuật của sự cô đọng và tinh tế

Tổng quan về truyện ngắn: Nghệ thuật của sự cô đọng và tinh tế

Nghệ thuật dẫn dắt và chuyển ý trong bài viết nghị luận văn học

Nghệ thuật dẫn dắt và chuyển ý trong bài viết nghị luận văn học

Những yếu tố cần thiết để phân tích một tác phẩm thơ

Những yếu tố cần thiết để phân tích một tác phẩm thơ

Giải mã cấu tứ và hình ảnh: Nghệ thuật phân tích thơ trữ tình

Giải mã cấu tứ và hình ảnh: Nghệ thuật phân tích thơ trữ tình

Kĩ năng kiểm soát dung lượng khi viết đoạn văn nghị luận 200 chữ

Kĩ năng kiểm soát dung lượng khi viết đoạn văn nghị luận 200 chữ

10 cách kết bài "để đời" - Bí quyết giữ lửa cho bài văn nghị luận khó quên

10 cách kết bài “để đời” – Bí quyết giữ lửa cho bài văn nghị luận khó quên

Bứt phá vốn từ, nâng tầm tư duy biểu đạt

Bứt phá vốn từ, nâng tầm tư duy biểu đạt

Hướng dẫn chi tiết phân tích một tác phẩm thơ bất kỳ

Hướng dẫn chi tiết phân tích một tác phẩm thơ bất kỳ

Cách viết đoạn văn 200 chữ cảm nhận một hình ảnh trong bài thơ/đoạn thơ

Cách viết đoạn văn 200 chữ cảm nhận một hình ảnh trong bài thơ/đoạn thơ

10 Công thức mở bài ấn tượng nhất

10 Công thức mở bài ấn tượng nhất

Chi tiết "công thức vàng" trả lời câu hỏi về tác dụng của biện pháp tu từ

Chi tiết “công thức vàng” trả lời câu hỏi về tác dụng của biện pháp tu từ

HocVan.edu.vn

"Văn học giống như ánh sáng, chỉ cần bạn sử dụng một cách thích hợp, nó có thể xuyên thấu mọi thứ."

  • Trang chủ
  • Học văn THCS
  • Học văn THPT

© 2025 hocvan.edu.vn | Design by wowwgame.com

Không tìm thấy
View All Result
  • Trang chủ
  • Học văn THCS
    • Học tốt Ngữ văn 6
    • Học tốt Ngữ văn 7
    • Học tốt Ngữ văn 8
    • Học tốt Ngữ văn 9
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
  • Học văn THPT
    • Học tốt Ngữ văn 10
    • Học tốt Ngữ văn 11
    • Học tốt Ngữ văn 12
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi

© 2025 hocvan.edu.vn | Design by wowwgame.com

Welcome Back!

Login to your account below

Forgotten Password?

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In