“Thi sĩ non tay thì bắt chước; thi sĩ lão luyện thì ăn cắp” (T.S. Eliot). Nhưng để ăn cắp thì cần độ “lão luyện”, đó là “phải biết phi tang để không ai biết” khi đó, “nó sẽ là của mình” (Xuân Diệu). Thực chất, chuyện ăn cắp cũng là một cách nói sái đi của việc kế thừa văn chương mà thôi. Còn về phần phi tang, phải chăng đó là một sự sáng tạo, cách tân trên nền truyền thống? Trong tiến trình văn học, kế thừa và cách tân là yêu cầu tất yếu, và nó “không phải là công việc của một nhà văn mà là cuộc chạy tiếp sức của các nhà văn qua nhiều thế hệ, nhất là các nhà văn tài năng”.
Phàm là những giá trị tốt đẹp thì nên được bảo lưu, di truyền. Đó là kế thừa. Tuy vậy, quy luật của cuộc sống là tiến hóa, nghĩa là phải cách tân để phát triển, đề một nền văn chương không rơi vào sáo mòn. Người nghệ sĩ phải là người biết kết hợp hai yếu tố trên, một là để anh không bị mất gốc, hai là đề anh thỏa chí bộc lộ cái tôi và khả năng sáng tạo của mình. Nhưng để tiếp nối một nền văn học thì đó là công việc của tất cả nhà văn, nhà thơ chứ không riêng rẽ một ai. Nhìn vào bộ mặt văn học, ta thấy sự tiếp nối và đứt đoạn của cái cũ. Và những nhà văn tài năng phải là thừa kế dòng chảy cũng như đưa dòng chảy đi xa hơn, tới một chân trời mới. Ý kiến trên đã khẳng định quy luật tất yếu của văn học và nhiệm vụ của các nhà văn trong dòng chảy lịch sử văn chương.
Cũng như bao hình thái ý thức khác, nghệ thuật không tồn tại một cách độc lập, nó được đặt trong dòng sông lịch sử để hấp thụ những tinh hoa, nhưng đồng thời tự thân nó cũng muốn tiến xa hơn, rẽ thành nhiều mạch nhánh. Kế thừa và cách tân là thuộc tính tất yếu của nghệ thuật, nhưng cũng là yêu cầu bức thiết đối với mỗi nhà văn. Anh được nuôi lớn bởi những người đi trước, vì vậy mà các tác phẩm ít nhiều đều mang hơi thở bậc tiền nhân. Mặt khác nghệ thuật là lĩnh vực của sự độc đáo, nó không lặp lại, thế nên cách tân như một phương thức sống còn của thi sĩ, văn nhân. Không phải của riêng một ai, mà là cả thảy những người nghệ sĩ. Không phải chỉ một thời, mà còn là rất nhiều thời. Nói rằng đó là một cuộc chạy tiếp sức quả không sai.
Trở ngược văn đàn những năm 1932 – 1945, ta bắt gặp một cuộc cách mạng, một sự quật khởi, một bước ngoặt mà từ đó khai sinh một thời đại sôi nổi nhất trong thi ca: Thơ Mới. Song, dẫu có tìm đủ mọi cách để vượt thoát khỏi khuôn vàng thước ngọc, các nhà Thơ Mới vẫn chẳng thể khước từ sự tiếp nối với người xưa, đoạn tuyệt với những kinh nghiệm thẩm mỹ truyền thống. Ngay cả Xuân Diệu – người được tôn vinh là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh) cũng viết lên những tứ thơ ngậm màu sắccổ điển:
Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên,
Cây me ríu rít cặp chim chuyền.
Đồ trời xanh ngọc qua muôn lá,
Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền.
Bên cạnh Xuân Diệu, Huy Cận cũng tìm về người xưa, khơi ra cái mạch sầu vạn cổ mà tiếp nối nỗi buồn của cổ nhân trước cảnh không gian đầy rợn ngợp, trước dòng sông chảy trường kì. Dòng sông sơn thủy trong văn học cổ truyền là nơi thấm đượm nỗi buồn, một nỗi cô đơn mà Liễu Tông Nguyên từng cảm khái trước sự vô vạn vô hồi, “giữa ngàn non, chim bay tắt bóng”, “trên đường muôn ngả, dấu người vắng tanh.” Chính tại nơi đó, còn độc nhất một dòng sông đề con người kí thác tâm tư nguyên vọng:
Cô chu thôi lạp ông
Độc điếu hàng giang tuyết
(Thuyền trơ trọi, ông già nón lá áo tơi
Một mình ngồi thả câu trong tuyết trên sông lạnh)
(Giang Tuyết)
Hay dòng sông gợi nỗi nhớ, sự hoài niệm của Thôi Hiệu với quê hương:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Đến Huy Cận, vẫn là nỗi sầu muộn, lẻ loi của một “bến cô liêu” trước cảnh “sông dài trời rộng”, khi “nắng xuống trời lên”. Vẫn là niềm khắc khoải mong nhớ quê hương đến da diết:
Lòng quê dợn dợn với con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Nhà thơ mang nỗi buồn của thơ văn cổ xưa, của cổ nhân khi đứng trước dòng sông, khi tự nghiệm cái vô hạn vô hồi của vũ trụ. Thể thất ngôn tứ tuyệt đường thi được vận dụng, khiến tứ thơ càng mang phong vị cổ điền u hoài. Kế thừa là thế, Huy Cận vẫn “tự khơi lấy cho mình một dòng sông” (Nam Cao) để khẳng định cái tôi bản thể đầy sáng tạo. Nỗi buồn của thi sĩ không chỉ là nỗi buồn từ vạn cổ, nó là nỗi buồn của thế thời loạn lạc, một nỗi buồn rất hiện đại mà tất cả trí thức tiểu tư sản đương thời đều cố hữu cho mình. Chủ thề nỗi buồn ấy không cần nhìn “trên sông khói sóng” mà nhớ quê hương, nó tự nhớ, tự buồn vì lúc nào cũng đau đáu cảnh nước mất nhà tan, ê chề trước sự bất lực của mình. Bài thơ là sự giải phóng cái tôi đầy sầu muộn trước thời đại. Bên cạnh những thi liệu cũ, đã có sự thâm nhập của “củi”, “chợ”, “bèo” và ngôn ngữ tự sáng tạo “sâu chót vót”, “dợn dợn” để tạo nên sự hòa điệu giữa kế thừa và cách tân trong bài thơ. Dựa vào cái tạng riêng, mỗi người nghệ sĩ lại có cách khai thác văn học cổ truyền khác nhau. Cuộc tiếp nối ấy không chỉ của riêng nhà văn nào, mà bất kì ai đã mang duyên với nghề cầm bút đều có ý thức tự giác tìm về với người xưa mà đối thoại, tiếp lời, để rồi những tác phẩm ra đời thay cho lời hồi đáp của những kẻ hậu bối. Xuân Diệu kế thừa cổ nhân nét lung linh, u huyền của không gian. Nhưng nét đẹp ấy còn mang vẻ tân kì bởi những rung động đầy tế vi của cái tôi luôn đầy ắp cái tình xuân trẻ. Huy Cận tiếp tục khơi ra mạch sầu vạn cổ, nhưng sầu đã nhuốm cảm quan thời đại, một nỗi sầu rất bản thể khi nhận thức được bất lực của mình. Nguyễn Bính tiếp tục đánh thức vẻ trong trẻo của thôn quê, nhà thơ nối tiếp sự dân dã, bình dị của ca dao, tuy thế, người đã mang hơi thở thời đại – yếu tố cá nhân – vào thể lục bát truyền thống mà tạo nên một bản lĩnh rất riêng, nói như Chu Văn Sơn là “ma quái”, hay nói như Nguyễn Huy Thiệp là câu thơ như được “trời làm” chứ không phải là “người làm”. Bằng bản lĩnh nghệ thuật, người nghệ sĩ cách tân dựa trên sự kế thừa. Chính hai yếu tố ấy giữ cho dòng chảy văn hóa xuyên suốt nhưng vẫn tuân thủ bản chất sáng tạo của nghệ thuật; và nó là “cuộc chạy tiếp sức” để tạo ra sự đa dạng, phong phú cho diện mạo văn học, giống như thơ mới – một thời đại sôi nổi nhất của thi ca. Ngoài ra, qua chặng đường này, những vị đại biểu tiêu biểu nhất của thời đại sẽ lộ diện, họ là người sáng giá nhất đề thế gian sau này vẫn nhớ đi khi nhìn vào một giai đoạn văn chương.
Nhận xét về tiến trình phát triển văn học, Bela Bartok cho rằng: “Trong nghệ thuật chỉ có sự tiến bộ nhanh hay chậm. Về cơ bản, nó là vấn đề về sự tiến hóa […]” Đặc thù của nghệ thuật là ở chỗ nó không bao giờ đào thải cái đúng, mặc dù nó có thể cũ, nhưng lại không thể mất đi. Nó sẽ in bóng mình trong cái mới. Trải qua thời gian đằng đẵng, các nhà văn đến sau kế thừa, và bằng chính tài năng của mình, họ dần dần nâng nó lên, tài những giá trị mới phù hợp với hệ hình thẩm mỹ thuở bấy giờ để phù hợp với khát vọng, thị hiếu ngày càng cao của người đọc. Khảo sát trong văn hóa người Việt, tiếng cười là một giá trị cổ truyền xuyên suốt cùng với chiều dài lịch sử, từ văn học dân gian với những lời ca châm biếm:
Chồng người đánh giặc sông Lô
Chồng em ngồi bếp rang ngô cháy nhà
Chồng người cưỡi lừa bắn thun
Chồng em ngồi bếp cầm súng bắn gà.
Đến văn học Trung Đại, cái cười vẫn tiếp diễn với những sáng tác của Xuân Hương, nối tiếp mạch giễu cợt, phê phán hiện thực oái oăm, đầy bất cập:
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm
Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà.
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.
Tuy thế, thơ Hồ Xuân Hương không chỉ có tiếng cười giễu nhại, hạ bệ mà còn có cả tiếng cười tự do, giải phóng, vui sống. Đó là tiếng cười phồn thực, ca ngợi sinh thực khí, cười để góp phần làm cuộc đời sinh sôi nảy nở:
Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì múi nó dày
Quân tử có yêu xin đóng cọc
Đừng mân mó nữa nhựa ra tay
(Quả mít)
So với trong văn học dân gian, tiếng cười phồn thực diễn ra đậm đặc ở thơ Hồ Xuân Hương. Nữ sĩ đã kế thừa cái cười truyền thống, nhưng cũng phát triển tiếng cười lên nhị chức năng. Điều này tương ứng với lí thuyết của M. Bakhtin khi nhấn mạnh tính nhị nguyên của tiếng cười, nó “vừa hân hoan vừa giễu cợt, vừa phủ định lại vừa khẳng định, vừa hạ huyệt lại vừa tái sinh.”
Không dừng lại ở đó, tính nhị nguyên của tiếng cười vẫn tiếp tục được phát triển. Đặc biệt trong dòng văn chương trào phúng những năm 1930 – 1945 mà điển hình là “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng. Tiếng cười của nhà văn không giống Tú Xương trước đó và Tú Mỡ cùng thời, nó không một chiều phê phán mà “vừa phủ định lại vừa khẳng định” giống như Hồ Xuân Hương. Thoạt tiên, tiếng cười ấy đả kích sâu cay hiện thực nhiễu nhương, phê phán, chế nhạo tất cả cái xấu xa, bần tiện của một hạng người, một thời đại Âu hóa “chó đều”. Vũ cái bịp bợm của xã hội, mọi thứ đều đảo điên đến nỗi một thằng nhặt ban quần vô lại như Xuân Tóc Đỏ cũng được tôn vinh lên làm “Đốc Tờ Xuân”, “nhà cải cách xã hội” hay thậm chí là “anh hùng cứu quốc”. Nhưng, tiếng cười trở nên chua chát khi nó khẳng định thực tại ấy là một điều tất yếu của tiến trình xã hội. Vũ Trọng Phụng nào có thù ghét Xuân Tóc Đỏ đâu, “ông nhìn nó có phần như một cái gì ngồ ngộ, thậm chí còn có chút ít cảm tình nữa.”, bởi lẽ, theo cảm quan nhà văn, Xuân chỉ là hệ quả của thời đại, nó xuất hiện một cách tự nhiên và vận hành theo một quy luật sâu xa nào đó. Vậy nên cười cũng như một lời ca hân hoan nhưng đầy cay đắng của nhà văn khi trào đón sự dị hợm của thời đại. Bằng tài năng nghệ thuật, Vũ Trọng Phụng đã hoàn thiện sâu sắc tiếng cười truyền thống. Nó vừa giống nữ sĩ Xuân Hương ở tính nhị nguyên, lại giống Tú Mỡ, Tú Xương ở phần đả kích trực diện vào bộ mặt xã hội đô thị đương thời.
Như thế, khởi nguồn từ tiếng cười dân gian, xuôi theo dòng chảy văn học, tiếng cười nâng lên tính nhị nguyên, mà cái cười cũng ngày càng thâm trầm, sâu sắc. Cười cũng đâu chỉ đơn thuần là cười, sau tiếng cười có thể là hân hoan ca ngợi, cũng có thể là những giọt nước mắt đầy uất hận, khổ đau. Sự đa âm của tiếng cười thỏa mãn được nhu cầu đọc ngày càng cao của độc giả, và cũng đâu chỉ mình tiếng cười, còn hằng hà sa số những giá trị thẩm mỹ trong văn chương được các nhà văn tiếp tục kế thừa và phát triển. Đặc biệt, đối với những nhà văn tài năng, sự sáng tạo có thể dẫn đến biến hóa, nâng lên một tầm cao mới cho các giá trị truyền thống. Ý kiến trên đã rất xác đáng khi đưa ra nhiệm vụ bức thiết cho người nghệ sĩ. Anh phải không ngừng nuôi lớn mình bằng văn chương tiền nhân, nhưng không vì lẽ ấy phụ thuộc quá đà mà mất đi bản lĩnh sáng tạo. Bên cạnh hiểu biết, nhà văn không ngừng trau dồi tài năng, để rồi tiếp nối văn học truyền thống và đóng góp những bước tiến mới cho văn đàn.
Làm người nghệ sĩ tài giỏi, nghĩa là anh phải chạy không ngừng nghỉ. Chạy cùng hoàng hôn khuất bóng, lại chạy để ngắm ánh bình minh. Dẫu thế, người nghệ sĩ không đơn độc, khi tất cả những ai đang cầm bút đều phải chạy, mặc cho anh không thấy họ, nhưng tất cả đều đang chạy để nới rộng chân trời văn chương.

























Thảo luận về bài viết này