Người nghệ sĩ là đấng sáng tạo trong thế giới nghệ thuật của anh ta, cũng là một người đã tạo lập nên một thế giới song song với thực tại. Nhưng vùng đất mà anh tạo nên là sự độc nhất không thể lặp lại. Và nhà văn sẽ không bao giờ cho phép bản thân rơi vào hoàn cảnh bi kịch:
“Khi bị gọi nhầm tên,
Tôi không nói gì.
Khi bị ai đó nói rằng, tôi giống người họ đã gặp
– Tôi bỏ đi”
(Trích: “Tôi” – Vi Thùy Linh )
Đối với nhà văn, “bị gọi nhầm tên”, “bị ai đó nói rằng, tôi giống người họ đã gặp” là lúc anh bị đánh đồng, bị hòa lẫn trong tiếng nói chung của cả thời đại hay trở thành bản sao của một người nghệ sĩ khác. Và trong hoàn cảnh ấy, người cầm bút cần “không nói gì” hoặc “bỏ đi” – thể hiện thái độ phản kháng trước bi kịch để khẳng định lại giá trị, dấu ấn riêng của bản thân. Thông qua bốn câu thơ, Vi Thùy Linh đã khẳng định một yếu tố vô cùng quan trọng, cá tính riêng. Nếu không đảm bảo được sự khác biệt ấy nơi trang văn của mình, các nhân văn sẽ rơi vào hoàn cảnh “bị gọi nhầm tên” và tệ nhất là bị lãng quên theo dòng chảy của thời gian.
“Khi bị gọi nhầm tên”, “khi ai đó nói rằng, tôi giống người họ đã gặp”, ấy là bi kịch của những kẻ sống nương nhờ vào chữ nghĩa. Một phong cách riêng, một cá tính nghệ thuật có thể coi là yêu cầu bắt buộc và cơ bản nhất dành cho các cây bút chân chính. Nhưng để có được một “bộ mặt” riêng không phải điều dễ dàng, đó là cả một hành trình đánh đổi và thử nghiệm không ngừng của người sáng tác văn chương. Anh ta đã phải trải nghiệm không ngừng và thậm chí, là “đi nhầm” vào lối mòn, trở thành một bản sao thân quen khi không có được điều gì đó khác biệt. Đó là lúc anh bị “gọi nhầm tên” và thậm chí là trở thành bản sao của người đi trước. Như Nam Cao trong buổi đầu khi mới chập chững bước vào làng văn, ông đã thử nghiệm ngòi bút của bản thân trên dòng chảy của thơ ca lãng mạn:
“Tâm hồn tan tác làm trăm mảnh
Vương vấn theo ai bốn góc trời
Rồi để một chiều theo gió thổi
Bay lên thành những mảng mây trôi”
(Báo: “Ngày nay” – 1938)
Nam Cao khi ấy đang biến bản thân trở thành một gương mặt thân quen, đẩy chính mình vào bi kịch của việc bị gọi nhầm tên. Bởi những lời thơ mà ông viết ra hoàn toàn là sự lặp lại, ông chỉ đi theo lối viết quen thuộc của các cây bút thơ ca lãng mạn mà không thể tìm thấy bản thân tại đó, không thể “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao). Vì là đó mà đa số các độc giả chỉ biết đến Nam Cao với tư cách là một nhà văn hiện thực phê phán – nơi đã khẳng định mạnh mẽ dấu ấn riêng của ông mà không phải là những câu thơ lãng mạn trước đó. Có thể nói, trên hành trình viết, người nghệ sĩ phải dấn thân, thử nghiệm rất nhiều. Vì vậy, đôi lúc tại đó, nhà văn sẽ có thể đi nhậm đường, trở thành một dáng vẻ thân quen, không có gì mới lạ, khác biệt. Không chỉ vậy, việc “bị gọi nhầm tên” hay “khi có ai đó nói rằng, tôi giống người họ đã gặp” sẽ là một lẽ đương nhiên bởi trong văn học thường xuất hiện những motip, những điểm tương đồng trong lối viết khi các cây bút kế thừa lẫn nhau. Như với “Chí Phèo” – Nam Cao đã có sự gặp gỡ với “AQ chính truyện” – Lỗ Tấn, đều khắc họa hình ảnh người nông dân bị tha hóa. Hay sự giống nhau khi đều vận dụng thủ pháp nhại lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái với các tác phẩm của Lỗ Tấn,… Chính sự kế thừa lối viết, phương pháp viết của nhau đã đem lại cho bạn đọc những cảm giác quen thuộc khi tiếp nhận tác phẩm. Vì vậy, “gọi nhầm tên”, “bị ai đó nói rằng, tôi giống người họ gặp” có thể coi là một hiện trạng, đôi lúc không thể tránh khỏi. Không nói gì”, sở dĩ bởi hình thức giao tiếp chủ yếu của văn nhân là thông qua trang viết, không phải những phát ngôn bằng lời lẽ trực tiếp. Bởi ngay trong chính các dòng văn, câu thơ ấy đã ẩn chứa rõ ràng những gì người viết muốn thể hiện. Dù đã có sự kế thừa từ người đi trước nhưng đã là một nhà văn chân chính thì chắc chắn ngoài sự kế thừa, anh ta vẫn “chạm khắc theo một cách riêng” (Sóng Hồng), vẫn có “cái quan trọng trong tài năng văn học” “là tiếng nói của riêng mình” (Ivan Turgenev). Vì vậy, khi bạn “gọi nhầm tên” người nghệ sĩ ấy, nói người cầm bút ấy giống với một ai đó, anh ta sẽ đáp lại bằng một cây bút và những trang giấy nghệ thuật. Như Hồ Xuân Hương, các sáng tác của bà đều được kế thừa từ thể thơ Đường luật nhưng Hồ Xuân Hương không tuân thủ hoàn toàn cách viết ấy, bà vẫn có sự sáng tạo riêng trong ngôn từ. Ngôn ngữ được sử dụng trong các thể thơ Đường luật thường mang tính sang trọng, cổ kính; còn ở Hồ Xuân Hương vân là thể thơ đó những ngôn ngữ trở nên đơn giản, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày. Cùng là sự miêu tả vẻ đẹp của người phụ nữ, Lý Bạch trong “Thanh bình điệu” đã viết:
“Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung”
Chọn thiên nhiên làm hình ảnh để so sánh, làm nổi bật vẻ đẹp của người phụ nữ: “vẫn tưởng y thường”. nhìn mây nhớ đến xiêm áo và “hoa tưởng dung” – trông hoa nhớ đến dung nhan. Lý Bạch đã chắt lọc lấy những hình ảnh mĩ miều, mang tính thẩm mỹ cao. Còn Hồ Xuân Hương lại dùng những con chữ rất thân thuộc: “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” (Bánh trôi nước). Vừa diện lên mình một “bộ cánh” chung, một diện mao rất đỗi quen thuộc trong thơ ca trung đại, vừa không quên “trang trí cho “bộ cánh” ấy theo một cá tính riêng. Hồ Xuân Hương đã khẳng định mình bằng cách viết, bộc lộ cá tính của bản thân qua trang viết để dù là độc giả ở thời đại nào cũng phải ngâm thừa nhận cái riêng của bà.
Không chỉ dùng lại ở việc “không nói gì”, các văn nhân chân chính còn chọn cách “bỏ đi”. “Bỏ đi” trước hết là để tìm lại bản thể riêng. Bởi văn chương không phải là “làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho” mà phải “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao). Văn học là nghệ thuật mà nghệ thuật không bao giờ chấp nhận sự lặp lại hay bắt chước. Vì vậy, anh phải “bỏ đi”, rời khỏi những lối viết quen thuộc, những nguyên tắc cũ nhàm chán để tìm ra con đường riêng của mình. Cùng viết về người nông dân nhưng Nam Cao và Ngô Tất Tố không hề lặp lại nhau. Trong “Tắt đèn”, Ngô Tất Tố đã viết về sự bần cùng hóa của những con người chân lấm tay bùn trong cảnh sưu thuế. Nhà văn chủ yếu xoáy sâu vào cái đói, cái khổ của họ thông qua những hình ảnh, hành động, lời nói bên ngoài. Còn Nam Cao trong “Chí Phèo” lại đi theo một lối khác, ông không lựa chọn cách viết của các bậc tiền bối mà tự thiết lập cho mình một hướng đi riêng. Khai thác sự tha hóa của con người, đặc biệt là xoáy sâu vào việc miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật – đó là một trong những nét nổi bật ở phong cách Nam Cao. Nhà văn đã đi sâu vào nỗi đau tinh thần nhiều hơn là về vật chất – như cách viết của Ngô Tất Tố. Đó là nỗi đau đớn khi bị tước đoạt khả năng giao tiếp với thế giới loài người: “Tức thật! ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất”. Chí Phèo tức giận và khó chịu khi không có một ai đáp lại.
Bởi tiếng chửi vốn dĩ là cách thức mà Chí dùng để giao tiếp, dù đó là thứ ngôn ngữ không ai muốn nghe nhưng ấy lại là dấu hiệu của niềm khao khát giao tiếp với đồng loại. Chí chửi không phải để được ai đó an ủi, vỗ về mà hắn vốn chỉ cần một người đáp lại mình, dù đó có là một tiếng chửi khác. Nhưng những gì hắn nhận lại là sự im lặng của cả làng Vũ Đại. Bởi vậy Chí bực mình, hắn nhận thức được bản thân đang dần bị tước đoạt quyền làm người. Nhà văn đã xoáy sâu vào dòng tâm trạng, cảm xúc, tâm lý đấy bị kịch ấy. “Thế thì có khổ hắn không?” Nam Cao không đi theo lối viết của người đi trước, ông bỏ qua nó mà chọn đi sâu vào thế giới tinh thần nhân vật. Ông khai thác chi tiết và đầy đau đớn nỗi đau của Chí Phèo. Cũng đồng thời khi ấy tác giả đã tìm thấy “mình”.
Giống với Nam Cao, Xuân Diệu cũng lựa chọn “bỏ đi, rời khỏi chốn “tinh cầu giá lạnh” hay nơi “cung quế” mà các nhà thơ khác đã “đóng đinh” để tìm về cái đẹp gần gũi nơi “thiên đường trên mặt đất” bằng một giọng điệu rất riêng.
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây, ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm, thần vui hằng gõ cửa
Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”.
(Vội vàng)
Xuân Diệu thoát khỏi dòng chảy chung của thời đại mà tìm cho mình một thế giới riêng, nhiều màu sắc. Không như Chế Lan Viên hoài tiếc về một dân tộc “điều tàn”, Vũ Đình Liên hoài cổ chút hồn xưa của dân tộc, hay Phạm Huy Thông muốn quay về quá khứ để tìm giấc mộng Hạng Vũ, Kinh Kha. Xuân Diệu không giống họ, rời khỏi nỗi niềm chung của Thơ mới, ông đã ôm trọn khu vườn địa đàng nơi trần thế, sống với sự vội vàng, mang chút tươi mới, rộn ràng chứ không phải là nỗi buồn ngập tràn khi nhìn lại một thời dĩ vãng xa xôi. “Bỏ đi” khi ấy thật sự là một cách để các cây bút tìm lại chính mình. Rời khỏi dòng chảy chung, “bỏ đi” khỏi lối viết của tiền nhân để tự mình tạo lập phong cách riêng.
“Bỏ đi” còn là để vượt qua giới hạn, thiết lập cái mới ở cá nhân nhà văn và hơn hết là ở văn học. Có phong cách, có con đường đi riêng là điểm mạnh nhưng hơn hết, độc giả cần hơn ở anh là sự vượt thoát hoàn toàn, một sự vượt lên cao đến độ làm xoay chuyển một nền văn học. Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX nếu không có những cây bút sẵn sàng đạp đổ thành trì phong kiến, tiếp thu văn hóa phương Tây để làm nên luồng gió mới trong cả tư duy lẫn nghệ thuật thơ tân kỳ mới mẻ, thì đã chẳng có “một thời đại trong thi ca” như Hoài Thanh ca ngợi. Hay khi Cách mạng thắng lợi, nhiệm vụ chính trị của văn nghệ đã được hoàn tất, chính lời kêu gọi “Hãy đọc lời điếu cho một nền văn nghệ minh họa” của Nguyễn Minh Châu đã trở thành lá cờ tiên phong cho sự vượt thoát khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học kháng chiến. Các nhà văn dần quan tâm nhiều hơn đến đời sống thế sự, số phận cá nhân của con người. Từ đó, văn học mới đổi mới. Văn chương là địa hạt của sự sáng tạo. Vì vậy, mỗi khi có một cây bút mới tiến vào làng văn thì câu hỏi tôi dành cho anh ta không phải anh là ai mà là liệu anh có thể đem tới cho tôi điều gì mới mẻ hơn. Vượt qua những cái bóng khổng lồ để trở thành một cái bóng vĩ đại hơn cả vậy – ấy là nhu cầu, là khao khát có bản của tất cả các cây bút chân chính. Bởi khi đã vượt qua mọi giới hạn trước đó, tác phẩm của anh sẽ thực sự trở thành một bản thể độc nhất chưa từng có. và anh sẽ là một tượng đài mà dù trải qua bao thế hệ vẫn mãi tồn tại. Marquez – tác giá của cuốn tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn” – “biến hiện thực thành hoang đường mà không đánh mất tính chân thực” đã gắn liền với chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của nền văn học Mỹ Latinh suốt bao thời gian lịch sử, không thể xóa mờ. Hay Baudelaire với danh xưng “nhà thơ bị nguyền rủa”… Tất cả họ là những người đã sáng tạo, đã bỏ đi. Không chỉ thiết lập phong cách mà còn tự mình mở ra một lối đi mới có thể thay đổi cả thời đại. Và họ cũng là những tên tuổi không bao giờ “bị gọi nhầm tên” hay bị cho là giống với ai đó. Khi ấy, anh sẽ trở thành một cái bóng lớn bao phủ lên cả thế hệ phía sau. Tránh việc lặp lại người khác nhưng anh cũng không được lặp lại chính mình. Vượt qua giới hạn của nền văn học đương thời nhưng anh cũng phải vượt qua được giới hạn của chính mình. Bởi không thể vượt qua chính mình cũng giống như việc anh đang đưa bản thân lên “pháp trường trắng”, bất lực và đau khổ. Như Kim Lân đã phải bật khóc khi không thể thoát khỏi cái bóng của: “Làng” hay “Vợ nhặt”.
Bỏ đi để sáng tạo, để vượt thoát vốn là sứ mệnh của nhà văn khi sáng tạo, như Hoài Thanh đã từng nói: “Đời chúng ta năm trong vòng chữ tôi”. Nhưng chưa bao giờ là dễ dàng, nếu không vì sao Nguyễn Du vì vuợt qua thời đại mà “Truyện Kiều” bị chỉ trích không ngừng bởi các nho sĩ thời phong kiến? Baudelaire cũng từng phải ra hầu tòa vì tập thơ : “Hoa sự ác”…Bởi vậy, bạn đọc cần phải có sự cởi mở hơn trong tiếp nhận, cần phải sẵn sáng đón nhận mọi cá tính, mọi sự bứt phá. Và chính mỗi nhà văn phải không ngừng mài giũa tài năng nghệ thuật, rèn luyện bản lĩnh để dám “bỏ đi” đến một vùng đất mới. “Rồi thì cũng sẽ có những cỗ máy biết viết văn, làm thơ… nhưng sẽ không bao giờ sản phẩm công nghệ cao ấy có thể thay thế các cây bút tài hoa chân chính. Bởi máy móc là sản phẩm đã được lập trình sẵn và chúng chỉ có thể hoạt động theo “lệnh”. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc chúng không có năng lực “bỏ đi”.
(Hoàng Duyên Hải THPT Chuyên Lào Cai – Lào Cai Giải Nhì HSG Quốc Gia năm 2024)

























Thảo luận về bài viết này