Đọc truyện Nguyễn Ngọc Tư, điều đọng lại trong tôi sau mỗi trang văn là một cảm giác thân thương đến nao lòng, như thể chính tôi vừa ngồi dưới mái hiên nhà cũ, nghe bà, nghe mẹ kể những chuyện chẳng đầu chẳng cuối mà sao thấm thía vô cùng. Bà từng tâm sự: “Tôi tin người ta luôn có những câu chuyện giống nhau, cùng sở hữu một vốn từ ngữ gần như nhau, nhưng mỗi người sẽ có một cách kể của riêng mình”. Nhận định ấy cứ văng vẳng trong tôi mỗi khi đọc truyện ngắn “Chỗ nào cũng nắng”, bởi ở đó, từ những câu chuyện nhà quê tưởng chừng như ai cũng có thể kể, Nguyễn Ngọc Tư đã thực sự tìm thấy một cách kể đầy ám ảnh, một giọng điệu không thể trộn lẫn, để rồi khi gấp trang sách lại, lòng ta bỗng nao nao nhớ về một miền ký ức nào đó đã từng đánh rơi.
Để hiểu được cái hay của “Chỗ nào cũng nắng”, ta cần soi chiếu nó dưới ánh sáng của ý kiến trên. Nguyễn Ngọc Tư khẳng định rằng “người ta luôn có những câu chuyện giống nhau”, điều này muốn nói đến đối tượng phản ánh của văn chương. Dù viết về bất cứ đề tài nào, dù thuộc thế hệ nào hay khuynh hướng nào, thì suy cho cùng, mọi nhà văn đều lấy hiện thực cuộc sống làm chất liệu. Và ở trung tâm của hiện thực ấy luôn là con người với những niềm vui, nỗi buồn, những khát khao và bi kịch muôn thuở. Bởi thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi ta bắt gặp những câu chuyện về tình yêu, về thân phận, về quê hương, về sự đổi thay… lặp đi lặp lại trong văn chương của mọi thời đại. Tiếp theo, bà nói “cùng sở hữu một vốn từ ngữ gần như nhau”, đó là nhận định về chất liệu ngôn từ. Văn học là nghệ thuật của ngôn từ, và ngôn từ ấy dù có được cách điệu, trau chuốt đến đâu thì cội nguồn sâu xa của nó vẫn là thứ ngôn ngữ bình dân, lời ăn tiếng nói hàng ngày. Không một nhà văn nào có thể sáng tạo ra một thứ ngôn ngữ hoàn toàn thoát ly khỏi đời sống. Nhưng điểm mấu chốt, điều làm nên giá trị đích thực và sự khác biệt giữa các nhà văn, chính là vế cuối: “mỗi người sẽ có một cách kể của riêng mình”. “Cách kể” ở đây không chỉ đơn thuần là giọng kể, mà là toàn bộ phương thức tổ chức tác phẩm: từ cách lựa chọn điểm nhìn, xây dựng kết cấu, dẫn dắt mạch truyện, đến cách sử dụng ngôn từ, tạo nhịp điệu và đặc biệt là cách nhà văn cất lên tiếng nói của mình trước hiện thực. Có thể nói, ý kiến của Nguyễn Ngọc Tư đã khẳng định một chân lý trong sáng tạo nghệ thuật: cái chung là nền tảng, nhưng cái riêng mới làm nên tên tuổi.
Bàn luận sâu hơn về nhận định này, ta thấy nó vô cùng xác đáng bởi lẽ văn chương suy cho cùng không phải là trò chơi của sự khác biệt bằng mọi giá, mà là hành trình kiếm tìm tiếng nói chân thật nhất từ sâu thẳm tâm hồn người nghệ sĩ. Nếu chỉ dừng lại ở những câu chuyện giống nhau và vốn từ chung, nhà văn sẽ chẳng khác gì một người thợ sao chép. Nhưng nếu phủ nhận hoàn toàn tính phổ quát của hiện thực và ngôn ngữ, văn chương sẽ trở nên bế tắc, xa lạ. Chính cái “cách kể riêng” là cầu nối giữa cái chung của đời sống và cái riêng của sáng tạo. Nó đòi hỏi nhà văn không chỉ có tài năng, mà quan trọng hơn là một trái tim giàu xúc cảm, biết rung động trước những điều tưởng chừng nhỏ nhặt nhất, biết quan sát tỉ mỉ và tái hiện lại hiện thực bằng một lăng kính độc đáo của chính mình. Như nhà phê bình đã từng nói: phong cách chính là “dấu vân tay” của người nghệ sĩ. Và để có được dấu vân tay ấy, nhà văn phải dấn thân, phải sống, phải trải nghiệm, phải đau đớn và hạnh phúc cùng với những gì mình viết. Chỉ khi ấy, những câu chuyện tưởng như ai cũng biết mới bỗng nhiên trở nên mới lạ, những con chữ quen thuộc mới bỗng nhiên cất lên một giai điệu chưa từng có.
Truyện ngắn “Chỗ nào cũng nắng” của chính Nguyễn Ngọc Tư là một minh chứng đẹp đẽ cho nhận định ấy. Xét về chất liệu chung, truyện lấy bối cảnh làng quê Nam Bộ – mảnh đất đã quá quen thuộc trong văn chương, từ Sơn Nam, Anh Đức đến nhiều cây bút đương đại. Những hình ảnh: xuồng, bếp, con lộ, bông so đũa, măng hầm thịt vịt… không phải là độc quyền của riêng bà. Và ngôn ngữ trong truyện cũng giản dị, đậm chất Nam Bộ: “láp giáp rời rạc”, “xăng xái”, “rạc rài”… Ấy thế nhưng người đọc không thể lẫn “Chỗ nào cũng nắng” của Nguyễn Ngọc Tư với bất kỳ truyện ngắn nào khác viết về miền Tây, bởi cách kể của bà quá riêng, quá ám ảnh.
Trước hết, ở cách tổ chức mạch truyện. “Chỗ nào cũng nắng” không có cốt truyện theo lối truyền thống với xung đột, cao trào, giải quyết. Tất cả chỉ là dòng hồi tưởng và suy tư của nhân vật “anh”, một người con xa quê đang sống ở thành phố. Mạch truyện được dẫn dắt bằng những câu chuyện của mẹ trong quá khứ, rồi đối sánh với những câu chuyện của chị Hai trong hiện tại, và kết thúc bằng nỗi buồn vô hạn khi đứng trước mộ mẹ. Cách tổ chức ấy khiến cho thời gian trong truyện không tuyến tính mà đan xen, chồng lấn, tựa như dòng ký ức vốn chẳng bao giờ ngay ngắn. Người đọc cảm thấy mình cũng đang lạc vào một vùng ký ức nào đó, vừa xa vừa gần, vừa thương nhớ vừa xót xa.
Điểm nhìn trần thuật cũng là một nét đặc sắc. Người kể chuyện ở ngôi thứ ba, nhưng gần như suốt truyện, điểm nhìn hoàn toàn đặt vào nhân vật “anh”. Đó là điểm nhìn bên trong, điểm nhìn thời gian, cho phép nhà văn len lỏi vào sâu thẳm nội tâm nhân vật. Ta thấy “anh” khát khao những câu chuyện của mẹ đến nhường nào: “Quá cái tuổi háo hức những món quà miệt vườn… mỗi bận bà lên thăm anh hóng thứ khác: những câu chuyện của quê nhà”. Ta thấy “anh” trân trọng từng lời mẹ kể, dù nó “lơ vơ, quẩn quanh”, bởi đó là “tấm liếp che nắng, gió cho anh đỡ rạc rài”. Và ta cũng thấy “anh” vỡ mộng khi nghe chị Hai kể về những chuyện “chang chói, bén nhọn”: tự vẫn bằng thuốc sâu, đánh gãy xương người vì tội trộm chó, ẩu đả vì ranh đất xê xích một tấc. Những cảm xúc ấy được miêu tả không bằng lời bình luận khô khan mà bằng chính sự vận động bên trong của nhân vật, khiến người đọc không thể không đồng cảm.
Giọng kể của Nguyễn Ngọc Tư trong truyện nhẹ nhàng, tâm tình, tựa lời thủ thỉ, nhưng ẩn chứa một nỗi buồn sâu thẳm. Giọng văn ấy phù hợp với không gian quê nhà êm ả, với những câu chuyện “không đầu cuối” của mẹ. Nhưng cái tài của bà là khi chuyển sang lời kể của chị Hai, giọng điệu vẫn thế, vẫn nhẹ nhàng ấy, nhưng sự nhẹ nhàng ấy lại càng làm nổi bật sự “chang chói, bén nhọn” của hiện thực. Có một chi tiết tôi rất thích: “Anh nghĩ cái xóm mà mẹ anh nằm lại, nó phải đứng ngoài những cơn gió lốc của cái đời sống loạn lạc này. Như nó đã từng thờ ơ đi qua mấy bận binh lửa, mấy bận chính thể đất nước đổi thay, mấy bận thanh trừng.” Những câu văn tưởng như thản nhiên, nhưng chất chứa một sự ngỡ ngàng, một sự hụt hẫng đến tột cùng. Quê nhà trong tưởng tượng của anh là “cụm bông gòn vừa bong ra khỏi trái, bay bâng quơ ơ thờ”, vậy mà giờ đây nó đã “thốc bay, cuốn vào dòng loạn lạc”.
Lời trần thuật nửa trực tiếp với các từ “anh nghe”, “anh tự hỏi”, “anh nghĩ”, “anh biết” xuất hiện dày đặc, tạo nên một nhịp điệu riêng, nhịp điệu của những trăn trở, của những giãi bày thầm kín. Câu cuối cùng của truyện: “Anh biết không phải tại chị Hai kể chuyện miệt vườn không hay” – một câu nói tưởng chừng đơn giản nhưng lại mở ra vô vàn suy tư. Vậy tại sao? Tại vì chính cuộc sống nơi quê nhà đã thay đổi, những giá trị xưa cũ đang bị bào mòn, con người đang trở nên tàn nhẫn và xô bồ hơn. Không phải lỗi ở người kể, mà là lỗi ở cái thời cuộc đã cuốn phăng đi những gì đẹp đẽ nhất.
Chính cách kể riêng biệt ấy đã mang đến cho “Chỗ nào cũng nắng” những giá trị sâu sắc. Về nội dung, truyện không chỉ phản ánh bức tranh làng quê Nam Bộ với vẻ đẹp của tình người, của sự gắn bó với thiên nhiên, mà còn thể hiện một tư tưởng nhân văn: nỗi đau trước sự băng hoại của những giá trị văn hóa truyền thống, nỗi nhớ nhà da diết của những đứa con xa quê, và sự bất lực trước dòng chảy nghiệt ngã của thời đại. Về nghệ thuật, tác phẩm khẳng định phong cách độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư: cốt truyện mỏng manh nhưng chiều sâu nội tâm vô tận, nhân vật không tên nhưng mang tính phổ quát cao, ngôn ngữ giản dị mà giàu chất thơ. Bà đã biến những câu chuyện tưởng chừng vụn vặt thành một bản ca buồn về quê hương, về nỗi mất mát không thể gọi tên.
Ý kiến của Nguyễn Ngọc Tư không chỉ đúng trong phạm vi sáng tác của bà, mà còn có ý nghĩa định hướng cho mọi người cầm bút. Nó nhắc nhở nhà văn rằng đừng vội chạy theo những đề tài giật gân, những câu chuyện quá khác lạ, bởi cái mới đích thực không nằm ở chất liệu mà nằm ở cách nhìn, cách cảm, cách kể. Hãy nhìn những điều thân thuộc bằng con mắt của lần đầu tiên, hãy kể những câu chuyện muôn thuở bằng giọng điệu của riêng mình. Và với người đọc, nhận định ấy giúp ta tinh tế hơn trong việc tiếp nhận tác phẩm: đừng chỉ hỏi “câu chuyện kể về điều gì”, mà hãy lắng nghe “câu chuyện được kể như thế nào”. Bởi ở cái “như thế nào” ấy ẩn chứa tài năng, tấm lòng và cả số phận của người nghệ sĩ.
Kết thúc truyện, nhân vật “anh” đứng trước mộ mẹ, những câu chuyện của mẹ giờ đã “hóa đất”. Nhưng có một điều không hóa đất, đó là cách kể của Nguyễn Ngọc Tư, một cách kể nhẹ tựa khói, buồn tựa chiều mưa, nhưng đủ sức ám ảnh ta mãi về sau. Và có lẽ, cũng chỉ bấy nhiêu thôi, bà đã hoàn thành sứ mệnh của một nhà văn chân chính: cho ta thấy rằng dù “chỗ nào cũng nắng”, dù cuộc đời có xô bồ đến đâu, thì vẫn có những câu chuyện, những ký ức, những tình cảm đáng để ta trân trọng và giữ gìn. Hãy kể chúng bằng cách của riêng mình, bởi suy cho cùng, đó mới là điều còn lại sau tất cả những biến động của thời gian.
——-
CHỖ NÀO CŨNG NẮNG
(Nguyễn Ngọc Tư)
Quá cái tuổi háo hức những món quà miệt vườn trong giỏ xách mẹ, mỗi bận bà lên thăm anh hóng thứ khác: những câu chuyện của quê nhà. Năm tiếng đồng hồ ngồi xe đò không ăn nhằm gì với bà già quen làm lụng, nên vừa bước chân vào nhà anh ngay lập tức chuyện giòn như cốm nổ. Không lúc nào chịu ngồi yên một chỗ, trong lúc xăng xái dọn chỗ này dẹp chỗ kia, vừa làm vừa kể, những chuyện nhà quê theo bước chân mẹ dìu dặt nửa xa nửa gần. Giọng điệu bâng quơ, như thể không ai nghe cũng không sao, mẹ nói cho vui nhà vui cửa. Chuyện và người kể chuyện, là những gì mà anh không thể mua ở cái thành phố tiện nghi đến tận xương tủy này, tiện nghi đến nỗi những kẻ nhớ quê cũng mua được cá lòng tong, mớ tép rong.
Mà, những câu chuyện ấy cũng đâu có giựt gân, kịch tính gì. Lơ vơ, quẩn quanh chỉ là cái góc bếp bị dột, cô bạn bên xóm vừa làm sui đầu tay, con lộ bê tông mới toanh phóng qua trước nhà. Sực nhớ gì thì nói đó, mẹ cứ láp giáp rời rạc, như thể chắp vá nhưng cái quê nhà mà anh đã rời bỏ hồi mười tám tuổi hiện lên sống động như bộ phim ai ải màu rơm rạ mục. Không phải cái tên nào anh cũng biết, nhưng anh cảm giác họ quen thuộc với mình, cái cô dâu phóng khỏi chiếc xuồng để quay lại với gã thợ rèn mà cổ yêu, hay bà thầy bói lấy búi tóc trong bụng con bệnh bằng máu lưỡi. Mẹ cũng không màng anh có quen người này người kia hay không, có gợi nhớ gì không. Quan trọng gì, mẹ sẽ ở lại nhà anh vài ba ngày rồi phải về coi vườn tược, thời gian mẹ con gần gụi cũng ngắn ngủn, nên phải tận dụng những thứ có thể nói được với nhau.
Bằng cách đó mẹ buộc anh vào quê nhà, dù sợi dây đó không thấy được bằng mắt thường, mong manh. Đôi khi anh cũng vuột khỏi nó, trôi tuột theo vài cuộc điện thoại thẳng căng của cuộc mưu sinh bù đầu. Mẹ, một chân rút lên ghế, tơ mơ ngó ra rào, thủng thẳng kéo anh về, “mùa này so đũa trổ bông…”. Ngay lập tức anh nghe ngọt trong cổ họng cái vị của mật nằm sâu trong cuống bông, cái hình ảnh nửa vầng trăng cong treo chi chít trên cành, và mùi thơm của nồi canh chua bông so đũa nấu với cá rô đồng, nêm rau tần dày lá.
Và những con Tím con Lẹ nào đó mà anh vẫn nhớ mùi ghẻ chóc, giờ nằm võng ru cháu nội, ngoại trước mặt anh, ngay giữa thành phố và căn nhà rào cỗng kín bưng. Họ đến với anh bằng mái tóc bạc, đuôi mắt răn reo…qua cái giọng kể hiền queo của mẹ. Khó mà nắm bắt cho rạch ròi những chuyện không đầu cuối đó nhưng nó mang đến một cảm giác khó tả, xáo động một cách êm đềm. Tàu chạy quá xá nên lở mất bụi quao dưới bến. Cuối năm nay người ta bắc cây cầu qua sông Đầm. Người chị em bạn dì của anh thôi chồng, về xứ cất quán bán cóc ken. Đứa cháu họ xa vời đại bác bắn không tới mới đậu đại học. Bầy vịt xiêm vừa thay lông, chắc tới đám giỗ nội là lại sức, thể nào chú Út cũng xắn mấy mụt măng đem qua. Măng hầm thịt vịt là món bà nội ưa nhứt, hồi còn sống.
Như thể mỗi chuyện là một cọng nan tre, mẹ tiện tay đan thành tấm liếp che nắng, gió cho anh đỡ rạc rài.
Nhưng đó là chuyện hồi trước, giờ chuyện quê nhập nhoạng trong cơn đảo điên của đời sống. Anh tự hỏi vì giọng chị Hai không giống mẹ, hay vì những câu chuyện khác xưa rồi. Chang chói. Bén nhọn. Chị Hai còn biết kể gì ngoài những độ nhậu nhóm lên từ sáng sớm. Ba mẹ con bên xóm tự vẫn chết bằng thuốc sâu. Gần nhà xảy ra mấy vụ đâm xe máy. Một thằng nhỏ trộm chó bị xóm xông vào đánh gãy xương vai. Một cuộc ẩu đả của mấy anh em con cô con dì, chỉ vì ranh đất xê xích có một tấc. Anh nghĩ đó không phải thứ mình chờ đợi, những gì xảy ra ở xứ sở miệt vườn xa xôi kia phải dịu dàng hơn thứ tin tức anh vẫn thường tiếp xúc trên trang báo hàng ngày. Anh nghĩ cái xóm mà mẹ anh nằm lại, nó phải đứng ngoài những cơn gió lốc của cái đời sống loạn lạc này. Như nó đã từng thờ ơ đi qua mấy bận binh lửa, mấy bận chính thể đất nước đổi thay, mấy bận thanh trừng. Mãi mãi trong hình dung, quê anh như cụm bông gòn vừa bong ra khỏi trái, bay bâng quơ ơ thờ đậu đâu cũng được.
Trong ngôi mộ đã bắt đầu xanh cỏ của mẹ, những câu chuyện nhà quê đã từng làm bóng mát cho anh cũng hóa đất. Đốm bông gòn hiền queo đã thốc bay, cuốn vào dòng loạn lạc. Anh biết không phải tại chị Hai kể chuyện miệt vườn không hay.

























Thảo luận về bài viết này