💖HocVan.Edu.Vn
  • Trang chủ
  • Học văn THCS
    • Học tốt Ngữ văn 6
    • Học tốt Ngữ văn 7
    • Học tốt Ngữ văn 8
    • Học tốt Ngữ văn 9
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
  • Học văn THPT
    • Học tốt Ngữ văn 10
    • Học tốt Ngữ văn 11
    • Học tốt Ngữ văn 12
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
Không tìm thấy
View All Result
💖HocVan.Edu.Vn
  • Trang chủ
  • Học văn THCS
    • Học tốt Ngữ văn 6
    • Học tốt Ngữ văn 7
    • Học tốt Ngữ văn 8
    • Học tốt Ngữ văn 9
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
  • Học văn THPT
    • Học tốt Ngữ văn 10
    • Học tốt Ngữ văn 11
    • Học tốt Ngữ văn 12
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
Không tìm thấy
View All Result
💖HocVan.Edu.Vn
Không tìm thấy
View All Result

Với tư cách là một nghệ sĩ, cái quan trọng nhất là nhà thơ phải tạo ra được quan niệm riêng về đời sống

Quan niệm ấy không hiện lên qua những lời thuyết lý khô khan mà nó phải hóa thân vào chữ nghĩa và hình tượng

in Bài văn học sinh giỏi
0 0
0
Với tư cách là một nghệ sĩ, cái quan trọng nhất là nhà thơ phải tạo ra được quan niệm riêng về đời sống

Với tư cách là một nghệ sĩ, cái quan trọng nhất là nhà thơ phải tạo ra được quan niệm riêng về đời sống

“Với tư cách là một nghệ sĩ, cái quan trọng nhất là nhà thơ phải tạo ra được quan niệm riêng về đời sống. Quan niệm ấy không hiện lên qua những lời thuyết lý khô khan mà nó phải hóa thân vào chữ nghĩa và hình tượng” (Nguyễn Đăng Điệp)

Bằng hiểu biết và trải nghiệm văn học em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

Bài làm

Có khi nào chúng ta – những người yêu văn chương tự đặt ra câu hỏi cho chính mình: Văn chương nghệ thuật đều bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, vậy tại sao không có sự gặp gỡ trùng lặp? Thật vậy, cuộc đời là mạch nguồn nơi dòng sông văn chương bắt nước. Tuy thế, hiện thực hiện lên qua cái nhìn, bầu cảm xúc của mỗi người nghệ sĩ, dù tâm hồn người viết có đồng điệu, tri kỷ cùng nhau nhưng mỗi nghệ sĩ là một cái tôi nội cảm riêng biệt. Cũng vì thế, đại diện cho người yêu thích văn chương, Nguyễn Đăng Điệp đã lý giải, tìm lời giải đáp cho riêng mình “Với tư cách là một nghệ sĩ, cái quan trọng nhất là nhà thơ phải tạo ra được quan niệm riêng về đời sống. Quan niệm ấy không hiện lên qua những lời thuyết lý khô khan mà nó phải hóa thân vào chữ nghĩa và hình tượng”.

Một tác phẩm văn học đích thực bao giờ cũng được sinh ra bởi người nghệ sĩ chân chính. Đó phải là một người nghệ sĩ tạo được tiếng nói riêng, giọng điệu riêng mình, thổi vào quan niệm riêng của bản thân những giá trị nhân văn cho nghệ thuật. Bởi vậy mà ý kiến của Nguyễn Đăng Điệp là hoàn toàn đúng đắn. Ông cho rằng điều quan trọng nhất ở mỗi người nghệ sĩ là “quan niệm riêng về đời sống”. Đây vừa là sự khám phá vừa là sự khẳng định của Nguyễn Đăng Điệp về vấn đề “phong cách” của người cầm bút. Đúng là “không có nghệ thuật nào là không có hiện thực” (Grandi), song đặc thù của văn chương là sáng tạo, mà như cách Tề Bạch Thạch nói: “Nghệ thuật vừa giống vừa không giống với cuộc đời. Nếu hoàn toàn giống cuộc đời thì đó là nghệ thuật mị đời. Còn nếu hoàn toàn không giống cuộc đời thì đó là nghệ thuật đời”. Nghệ thuật sẽ “tầm thường” nếu nó “miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả” (Bêlinxki) Mỗi tác phẩm văn học không chỉ “mượn chất liệu ở thực tại mà người viết phải đem tới “điều gì đó mới mẻ” (Nguyễn Đình Thi). Chất liệu cuộc sống là thước đo của phong cách, quan điểm cá nhân mỗi người. Đôi mắt nhìn đời khác nhau sẽ đem lại những trang văn khác nhau và mang đậm cá tính sáng tạo. Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề về cái nhìn, mà rộng hơn đó còn là yêu cầu về sứ mệnh của nhà văn, nhà thơ. Và hơn hết, quan niệm ấy không chỉ được truyền tải qua những con chữ khô khan mà phải “hóa thân vào chữ nghĩa và hình tượng”. Bởi văn học là nghệ thuật ngôn từ phản ánh thế giới bằng hình tượng nghệ thuật. Từng lời văn, lời thơ phải được viết ra từ sâu thẳm cõi lòng người nghệ sĩ, nó phải được sinh ra từ máu, từ nước mắt của người cầm bút. Đặc biệt, hiện thực cuộc sống phải được khoác lên mình lớp áo thẩm mỹ, tái hiện những khám phá mới lạ, độc đáo, hình tượng ẩn mình trong những giá trị nhân văn. Ý kiến của ông đã nêu lên được những sứ mệnh của người cầm bút là phải có được quan niệm riêng, cái nhìn khách quan về con người, cuộc đời, bản chất của một tác phẩm văn học chân chính – tiếng nói của tình cảm, cảm xúc.

Văn học là sự lên tiếng thôi thúc của trái tim. Nhà văn chỉ viết được khi “trong tim ta cuộc sống đã tràn đầy”. Song, “Cuộc sống và văn học là một đường tròn đồng tâm mà tâm điểm chính là con người” (Nguyễn Minh Châu).Con người không chỉ là tâm điểm của cuộc sống mà còn là đối tượng phản ánh trung tâm của văn học. Tuy vậy, có một nữ văn sĩ từng nói đại ý rằng: “Sẽ không bao giờ chúng ta gặp lại mình như chiều nay”.Cũng như một triết gia từng đúc rút: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Mỗi khoảnh khắc trôi đi không bao giờ trở lại. Sẽ chẳng bao giờ ta gặp lại một Nam Cao,một Nguyễn Tuân, Xuân Diệu hay Thạch Lam,… thứ hai trên cõi đời này nữa. Bởi lẽ văn chương không bao giờ là sự lặp lại và mỗi nhà văn có một tạng riêng, một phong cách riêng.

“Mỗi công dân có một dạng vân tay
Mỗi nghệ sĩ thứ thiệt đều có một dạng vân chữ”
(Lê Đạt)

Đứng trước hiện thực, người nghệ sĩ đều có ý thức lưu lại dấu ấn tư tưởng tình cảm của mình sao cho độc đáo, mới mẻ, không trộn lẫn.
Người nghệ sĩ thực thụ sẽ cảm hiểu được những gì nóng bỏng, bức xúc nhất của cuộc sống, những vấn đề trung tâm của thời đại, có ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc nhất đến cuộc sống đời sống con người. Lúc đấy, nhà văn, nhà thơ đạt độ chín trong phong cách của riêng mình. Người đọc chỉ khi nhắc đến đề tài, một vấn đề nào đó trong xã hội, lịch sử và văn chương người ta sẽ hình dung ra trọn vẹn chân dung của người viết về đề tài ấy. Nhắc đến chiến tranh người ta nghĩ ngay đến Lev Tolstoy với “Chiến tranh và hòa bình”, nhớ tới ngòi bút chân thực của Victor Hugo “Những người khốn khổ” và những rung cảm của Sô-lô- khốp dành cho “Số phận con người”. Chiến tranh là đau thương, là bao máu đổ, lệ tuôn. Bởi vậy, viết về đề tài này người ta không chỉ thấy được rõ nét về hiện thực khốc liệt, tàn bạo mà ở đó còn là những trái tim yêu thương đang rỉ máu, xót thương cho nhân loại. Trở lại dòng văn học nước nhà, Chủ nghĩa yêu nước của văn học Trung đại đã có biết bao bản cáo trạng bằng thơ đanh thép tố cáo tội ác của quân xâm lược như Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi:

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.”

Những tội ác mà “trúc Lam Sơn không ghi hết tội” ấy, nghìn đời không thể dung thứ. Và tác giả của áng “thiên cổ hùng văn” đã thể hiện rất rõ thái độ căm hận đối với tội ác quân thù, giống như Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn khi xưa mang mối hận “chưa xẻ thịt, lột da, nuốt gan, uống máu” quân thù.Dù hiện thực có được tái hiện qua hình thức, thời gian, khoảng cách nào thì ta vẫn thấy ở đó khát vọng bình yên no ấm cho nhân dân, khát vọng tự do, hoà bình.

Nguyễn Du đã viết “Truyện Kiều” bởi “nỗi đau đớn lòng” trước những điều Người đã “trông thấy”, đã từng trải qua trong cuộc đời. “Truyện Kiều” là tiếng kêu đau thương đứt ruột của Nguyễn Du trước kiếp đoạn trường sóng gió của nàng. Người nghệ sĩ có “con mắt …nghìn đời” đã bao lần phải thốt lên những vần thơ đầy ai oán:

“Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói ám hồng đánh ghen”

Nỗi đau ấy đã lại một lần thôi thúc Người viết nên hai câu thơ, mà hôm nay và mai sau hãy còn vang vọng

“Đau đớn thay phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Không cầu kì, hoa mỹ, đó là những lời huyết lệ, những lời tâm can của chính Nguyễn Du. Những câu thơ như thế, có gì hay, có gì mà hấp dẫn muôn triệu trái tim, muôn triệu tâm hồn? Và nỗi đau của Nguyễn Du cũng là nỗi đau của Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Hồ Xuân Hương,… Họ viết về hình ảnh người phụ nữ để tố cáo xã hội vô nhân tính kia chỉ toàn là gieo rắc đau thương, bất hạnh. Đó là xã hội trọng nam khinh nữ, đa thê mà chính nữ sĩ Hồ Xuân Hương là người đứng trong cuộc, hay đúng hơn, viết về hình tượng người phụ nữ bằng sự trải nghiệm của chính bản thân mình. Những vần thơ của Nguyễn Du vốn đã đau đáu, bi ai thì đến với Hồ Xuân Hương, thơ bà lại càng thâm cay, sát phạt trước những bất mãn cuộc đời:

“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”

Chủ nghĩa hiện thực và nhân đạo của văn học thời kỳ đó đã hoàn toàn chạm tới trái tim bạn đọc, mỗi nhà văn tái hiện và miêu tả, phản ánh hiện thực theo cái nhìn riêng biệt, song điểm chung là đều thổi vào trang văn áng thơ những giá trị nhân văn, sự đồng cảm của người đọc trước những đau thương, mất mát khổ cực của con người.

Đến với dòng văn học hiện thực phê phán 30-45, người đọc không thôi ám ảnh bởi cuộc sống tăm tối của nhân dân trước Cách mạng Tháng 8. Ngô Tất Tố phát hiện ra “vùng trời tối đen như mực” của người nông dân trước nạn sưu thuế, trong khi Thạch Lam quan tâm đến những đứa trẻ phố huyện có cuộc sống “một ngày như mọi ngày”, đến ước mơ cũng không biết ước mơ điều gì., Nguyễn Công Hoan khai thác nạn cướp ruộng đất, Vũ Trọng Phụng nhìn thấy nỗi thống khổ của người dân bởi nạn vỡ đê. Với Nam Cao, ông sâu sắc lạnh lùng khám phá ra con đường tha hóa nhân hình lẫn nhân tính của người nông dân. Các nhà văn trên đơn thuần chỉ là viết về nỗi bi kịch bần cùng hóa vì vật chất còn Nam Cao viết về sự tha hóa vì mặt tinh thần, bi kịch đến tận cùng của con người. Song, ông cho người đọc hiểu thế nào là tận cùng của mọi đau khổ, khám phá đến hàng cùng ngõ hẹp của nỗi đau đó. Đó là một thứ văn chương sắc lạnh mang tính độc đáo phát hiện độc đáo song cũng rất nhân văn khi đề cập tới những vấn đề lớn lao của thời đại. Cùng là mảnh đất hiện thực, những người con làng Đại Hoàng đã “khơi những nguồn chưa ai khơi”sáng tạo ra “đất” riêng của mình không hề trộn lẫn với các nhà văn Hiện thực phê phán cùng thời. Khác hẳn giọng văn hiền hậu, giọt nước mắt đồng cảm trào ra xót thương cho nhân vật của Nguyên Hồng hay giọng văn trào phúng thâm thúy Nguyễn Công Hoan Vũ Trọng Phụng, ấn tượng ban đầu của bạn đọc khi tiếp xúc với truyện của Nam Cao là một giọng lạnh lùng, tỉnh táo, sắc lạnh. Độc giả tinh ý nhận ra ẩn sau vẻ ngoài lạnh lùng là tình cảm yêu thương, chất trữ tình ngọt ngào của Nam Cao cho những đứa con tinh thần của mình. Truyện ngắn Chí Phèo, ngay từ những dòng văn đầu, người đọc không khỏi ấn tượng bởi tiếng chửi “ Hắn vừa đi vừa chửi”. Nam Cao tô đậm quá trình làm con quỷ dữ của làng Vũ Đại bằng một chi tiết chân thực đó là tiếng chửi. Ta hiểu Chí Phèo uống rượu không hoàn toàn vì nghiện mà mượn rượu để say, để mất đi lý trí để chửi bới mong ngóng lại một tiếng chửi hồi đáp.Giờ đây tiếng chửi là cách duy nhất để Chí Phèo chứng tỏ sự tồn tại của mình, sự hiện diện của mình trong cộng đồng của làng Vũ Đại. Rõ ràng người dân làng Vũ Đại không xa lánh mà hoàn toàn tuyệt giao Chí Phèo ra khỏi cuộc đời, không còn ai coi Chí Phèo là đồng loại nữa – “đáp lại chỉ có 3 con chó dữ mà một thằng nát rượu”.Bị tuyệt giao khỏi xã hội cự tuyệt quyền làm người.Chí Phèo bị tước đoạt hết ranh giới của một con người, bị tha hóa đến tận cùng, Chí bị bán mất cả hình người, hồn người để duy trì sự tồn tại của mình. Sống trong xã hội toàn là tội ác, giả dối Chí Phèo sống trong vỏ bọc của nỗi đau, đỉnh cao cùng nỗi đau bị khinh bỏ. Cái xã hội đó buộc con người ta phải khát khao sống một cuộc đời lương thiện đích thực. Nhát dao tự sát của Chí Phèo đã nổi lên ngọn lửa hoàn lương cháy bỏng sau bao nhiêu ngày bị vùi dập trong vỏ bọc của một thằng lưu manh, một con quỷ dữ. Nam Cao để cho Chí Phèo chết là cách nhà văn bảo toàn tính người, tình người, khát vọng người trong Chí. Chí Phèo đã chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc đời. Chí đã chết khi miệng còn “ngáp ngáp” như muốn thanh minh, muốn bày tỏ với cuộc đời, với con người. Còn gì đau đớn hơn thân phận của con người ấy? Viết về những số phận bất hạnh ấy, ngòi bút Nam Cao đâu chỉ nhằm phản ánh chân xác thực trạng con người bị tha hóa trong xã hội cũ. Nó còn là bản án tố cáo mạnh mẽ xã hội vô nhân đạo kia được nhà văn viết bằng máu, nước mắt, linh hồn của biết bao kiếp lao khổ. Tác phẩm của Nam Cao là tiếng chuông “hãy cứu lấy con người” với cái nhìn sắc bén về xã hội, thời đại đồng thời thấm đẫm giá trị nhân văn cao cả, một triết luận sâu sắc về giá trị con người. Tất cả đã khẳng định được tài năng nghệ thuật bậc thầy, lưu dấu ấn đậm nét trong phong cách của Nam Cao. Người con của làng Đại Hoàng thực sự chứng minh được mình là “Một nhà nhân đạo trong cốt tuỷ.” (Sê-khốp), chứng tỏ “phong cách, tức là có nét gì đó rất mới, rất riêng thể hiện trong tác phẩm của mình.” (Nguyễn Tuân).

Ở giai đoạn này, độc giả còn nhớ tới Thạch Lam – nhà văn tiêu biểu của dòng văn học lãng mạn đan xen với nó cũng là chất hiện thực đậm đặc. Cùng sống trong xã hội thiếu thốn về mặt vật chất; tăm tối về mặt tinh thần, hơn ai hết, những con người nhạy cảm như Thạch Lam thấu hiểu sự sống ngột ngạt trước CM. Nhưng những nhà văn hiện thực như Nguyễn Công Hoan xem đời là những mảnh ghép của những nghịch cảnh, Ngô Tất Tố xem đời là miếng vải có lỗ thủng, Nam Cao, cuộc đời là tấm áo cũ bị xé rách tả tơi thì với Thạch Lam đời là mảnh vải cũ kỹ, nhàu nhĩ mà nhà văn phải điểm tô cho nó sao cho thật nên thơ. Mỗi cách nhìn ấy trong mắt mỗi nhà văn đã tạo nên sự khác biệt trong phong cách, có thể là trào phúng, một chút gì đó lột tả hiện thực đến trần trụi nhưng với Thạch Lam “Cái đẹp còn trộn lẫn nỗi niềm sầu muộn. Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời” (Nguyễn Văn Thạc). Ông cho rằng “cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp ngang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường” nên đọc Hai đứa trẻ, ấn tượng đầu tiên gieo vào lòng người đọc vẫn là cuộc sống trước cách mạng tăm tối, tù đọng, mòn mỏi, với kiếp người nghèo nơi phố huyện. Song, nét thi vị vẫn hiện lên giữa chốn bùn lầy nước đọng, giữa “ao đời phẳng lặng ấy”. Thạch Lam đã tin cần trao gửi niềm khát khao ánh sáng, khát khao thay đổi cuộc sống ở hai đứa trẻ Liên và An. Dẫu ước mơ của hai chị em cũng như những người dân ở đó làm mơ hồ, là mông lung nhưng Thạch Lam vẫn tin tưởng và những ước mơ vẫn trân trọng những khát khao được đổi đời mong manh ấy. Đó chính là giá trị nhân bản đáng quý mà Thạch Lam cháu gửi lại cho người đọc.

Ta thấy, cuộc đời lớn của văn học thật dài rộng và phong phú khôn cùng qua mỗi tác phẩm. Mỗi lần cầm bút là mỗi lần người nghệ sĩ mở ra cho người đọc một cách nhìn mới mẻ, mang tính khám phá về cuộc đời và con người. Đó là thiên sứ, là trách nhiệm của người cầm bút trong việc sáng tạo nghệ thuật. Phong cách không chỉ là mốc điểm đánh dấu cái tôi cá nhân mỗi người mà đó còn là sự khẳng định của một nền văn học đã trưởng thành. Phong trào Thơ mới 32-45 là sự đánh dấu của hàng loạt những bông hoa nở rộ “Chưa bao giờ ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” (Hoài Thanh). Các nhà thơ có được nhận thức sâu sắc về con người, cuộc đời thời điểm xã hội đó nên họ yêu đời đến đau đời. “Thơ mới tràn ngập nỗi buồn” là vì vậy. Đến với thơ Hàn Mặc Tử người đọc sẽ bắt gặp được nỗi đau thương được trải nghiệm bằng chính thể xác – tâm hồn, lúc điên – tỉnh, mơ – thực của thi nhân. Thơ ông là nhật ký cảm xúc của những năm cuối đời xót xa, da diết khôn cùng.

“Trăng! Trăng! Trăng!
Là Trăng, Trăng Trăng!
Ai mua trăng tôi bán trăng cho”

Những lời thơ như còn vang vọng đâu đây tiếng lòng của một hồn thơ Hàn, nhiều đau thương nhưng cũng đầy tài hoa. Một nhà thơ mang số phận oan trái nhất, yêu cuộc sống bằng tất cả những mãnh liệt, tha thiết nhất chỉ có thể là một cõi lòng thiên hạ mang tên Hàn Mặc Tử. Chính vì thế, dù thơ ca của Hàn đầy ám ảnh về nỗi đau, nhưng trong những vần thơ tuyệt vọng bao giờ cũng lặng lẽ hướng về vẻ đẹp cuộc sống đó những gì mà nhà thơ yêu nhất, trân trọng nhất trong quãng đời ngắn ngủi của mình. Vẻ đẹp của cuộc sống dần được gợi mở qua những lời thơ man mác hoài niệm của Hàn Mặc Tử trong thi phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ”:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Quả thật, những gì được viết lên từ hồi ức thì đều thật đẹp, lãng mạn nên thơ. Thử hỏi nếu không yêu đời da diết, khát khao được gắn bó gắn bó với cuộc đời thì làm sao có thể tái hiện lên một khung cảnh xứ Huế đẹp đến vậy!Nếu Xuân Diệu được ví như con ong say mật ngọt, “xây lầu thơ trên mặt đất” thì Hàn Mặc Tử hồn thơ đau thương, càng yêu đời càng đau đời. Với Xuân Diệu, cuộc sống trần gian đẹp vô ngần:

“Của ong bướm này đây tuần trăng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si.
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

Cuộc sống trong quan niệm của Xuân Diệu là thiên đường của trần gian mà ở đó đều có đôi có cặp, thiên nhiên vạn vật giao hoà quấn quýt bên nhau. Cuộc sống của Xuân Diệu – nhà thơ được đánh giá là “mới nhất trong các nhà thơ mới” là cuộc sống trần gian hiện hữu ngay trước mắt, chỉ cần đưa tay ra là chạm tới, vươn tới “Này đây…này đây”. Nhưng với Hàn Mặc Tử cuộc sống của ông dù có đẹp đến mấy, có đáng sống đến đâu thì cũng phải chia lìa ngăn cách:

“Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…”

Yêu thiên nhiên, con người, cuộc đời đến khát khao cháy bỏng nhưng nhà thơ cũng đau đớn tột cùng khi phải lìa xa sự sống ấy. Nếu Xuân Diệu “này đây” là hạnh phúc, “này đây” là tình yêu đôi lứa, “này đây” là ái ân giao hòa, thì với
Hàn Mặc Tử “ở đây” lại là đau thương đến cô đơn tủi hờn: “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh” Đọc thơ Hàn Mặc Tử người đọc dễ dàng nhận thấy luôn là sự xuất hiện giữa hai không gian “ngoài kia- trong này”, “ở đây – bên ngoài”. Hai thế giới xuất hiện song song. Ngoài kia là cuộc sống tươi sáng, cõi nhân gian ấm áp sự sống, biên biếc màu sắc và ấm nóng tình người. Còn thế giới trong này “ở đây” là trại phong lạnh lẽo, là lãnh cung cô đơn, chia lìa mà ngày đêm thi sĩ đang chống
chọi với căn bệnh quái ác:

“Ngoài kia xuân đã thắm duyên chưa?
Trời ở trong đây chẳng có mùa,
Không có niềm trăng và ý nhạc,
Có người cung nữ nhớ thương vua…”

Hay đó còn là không gian đau thương mà Hàn Mặc Tử cũng rất nhiều lần tái hiện trong thơ của mình:
và:

“Anh đứng cách xa hàng thế giới,
Lặng nhìn trong mộng miệng em cười.”

“Tôi vẫn còn đây hay ở đâu
Ai đem tôi bỏ xuống trời sâu”

Hàn Mặc Tử như một vị khách của cuộc đời, đến rồi chợt đi trong tiếc nuối nhớ mong. Thế giới thực của Hàn Mặc Tử đã giam hãm thể xác của nhà thơ nên ông chỉ có thể giao lưu với bên ngoài bằng tâm tưởng bởi vậy mà kết thúc bài thơ là câu hỏi đau đáu:

“Ai biết tình ai có đậm đà”

Đây là câu hỏi của một con người mê đắm cuộc đời. “Tình ai” phải chăng là phiếm chỉ của người con gái xứ Huế, để cất lên câu hỏi muôn thuở của những người đang yêu như còn Xuân Quỳnh vẫn viết:

“Anh có nghe hoa rơi
Quanh chỗ mình đứng đó
Hoa ơi sao chẳng nói
Anh ơi sao lặng thinh
Đốt lòng em câu hỏi:
Yêu em nhiều không anh?”

hay đó là đại từ phiếm chỉ người đời trong hành trình tìm tri kỷ, tri âm, tìm mối đồng cảm giữa dòng đời lạnh lẽo vô tình mà chính 300 năm trước Nguyễn Du cũng từng hỏi:

“Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”

Có thể nói, thơ Hàn Mặc Tử là hồn thơ đau thương giữa dòng đời đau thương. Một nghệ sĩ viết thơ bằng máu, bằng nước mắt, bằng đau thương, bằng linh hồn tội nghiệp. Thơ ông là nhật ký của cảm xúc “Thơ hay là thơ chín đỏ trong cảm xúc”, là sự thôi thúc “Thơ bật ra khi tim ta cuộc sống đã tràn đầy”. Đó là ngòi bút yêu cuộc sống bằng tất cả những mãnh liệt thiết tha nhất của cõi lòng thiên hạ mang tên Hàn Mặc Tử . Để thấy rằng không phải hiển nhiên mà Hoài Thanh đánh giá Hàn Mặc Tử là hồn thơ “kì dị” nhất, Bích Thu cho rằng “bí ẩn” nhất, còn Chu Văn Sơn gọi là “lạ nhất”. Hàn Mặc Tử đã đem tới làn gió mới khác lạ, điểm tô vào phong trào Thơ mới nói riêng, Văn học nói chung một màu sắc độc đáo, mới mẻ.
xã hội, hiện thực càng biến động thì càng thôi thúc người nghệ sĩ cầm bút tái hiện, khám phá, Viết để lên tiếng đánh động, bảo vệ con người viết để lên tiếng đánh động, dành khi gửi bảo vệ con người. Nhưng đến với văn học giai đoạn sau 45, nhờ sự soi sáng của lí tưởng Đảng, nhờ giác ngộ cách mạng, các nhà văn nhà thơ đã giải quyết những câu hỏi về con người, cuộc đời trực tiếp hơn.Tố Hữu – một người chiến sĩ tiêu biểu trên mặt trận văn hoá, văn nghệ, một người nghệ sĩ viết sử bằng thơ. Ông đã có những vần thơ rất hay, ngỡ Việt Nam chỉ còn hoa, và ngưng đổ máu khi lá cờ tổ quốc phấp phới tung bay ở Quảng trường Ba Đình năm nào:

“Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có con người từ chân lý sinh ra.”

Ông đã chỉ ra tương lai tươi sáng cho những kiếp người tủi nhục ê chề như cô gái trên sông:

“Ngày mai bao lớp đời dơ
Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay
Cô ơi tháng rộng ngày dài
Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng”

Cũng thương yêu những con người đau khổ, ở đây là người kĩ nữ như các nhà thơ lãng mạn trước đó, nhưng nhờ nhận thức khách quan, biện chứng về quy luật cuộc đời, nhờ nhân sinh quan cách mạng, Tố Hữu đã tìm ra cho những người bất hạnh con đường đi đích thực, Còn Tô Hoài, qua Vợ chồng A Phủ đã chỉ rõ con đường cần phải đi để những số phận trâu ngựa, những kiếp nô lệ tự giải thoát ấy là tìm đến với cách mạng. “Hạnh phúc là đấu tranh”. Đó là ý nghĩa tích cực của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ gieo vào lòng người đọc. Hay rõ nét hơn cả là tiểu thuyết viết về thời hậu chiến “Bến không chồng” của Dương Hướng. “Bến không chồng” không chỉ đơn thuần nói về hiện thực chiến tranh mà còn khéo léo cài cắm vào đó là bức tranh thê lương thời hậu chiến với những vấn đề liên quan đến hủ tục, lề thói cũ mòn của làng quê. Khi những lề thói cổ hủ nghiệt ngã đã giết chết những mưu cầu hạnh phúc đơn giản nhất của con người nhà văn đã đại diện tiếng nói cho lớp người có học thức cất lên quyền mưu cầu được sống trong hạnh phúc trong thời bình. Mượn hiện thực của làng Đông – một làng quê điển hình ở Vùng Bắc Bộ để nói lên một hiện thực phổ quát hơn cả về nỗi đau kiếp người hậu chiến. Đó là hòn vọng phu đứng nhan nhản đợi chồng, đợi con trở về sau làn khói bom đạn; là những nếp sống hủ tục, cũ kĩ của xã hội đã bóp nghẹt con người một cách tàn nhẫn. Chiến tranh đã tạo ra hệ quả tất yếu trong sự cặp đôi đau đớn với đói nghèo cùng sự phá hủy, băng hoại tất thảy những giá trị vật chất và tinh thần, từ của một cá nhân, một gia đình cho tới một quốc gia, đúng như ca từ đau xót trong nhạc phẩm Mùa xuân của Phạm Minh Tuấn: “Bởi chiến tranh, bởi chiến tranh không phải trò đùa”. Mỗi nhà văn nhà thơ chứng kiến hiện thực ấy cũng không cầm nổi nước mắt, trái tim không thôi loạn nhịp để rồi chỉ với I giai đoạn văn học là hàng loạt tiếng nói đấu tranh giai cấp để giành lại quyền sống, ý thức cải tạo xã hội và ý thức về giá trị con người. Mãi về sau cho tới tận ngày nay – hậu chiến ta vẫn sẽ chẳng thể quên được hình ảnh những bà mẹ liệt sĩ ngồi trước mộ con đầy đau đớn, xót xa:

“Mẹ về đi đồi núi đã đầy sương
Manh áo mỏng chịu sao cơn gió lạnh
Nơi biên cương giờ đây không cô quạnh
Có bạn bè đồng đội ở bên con”
Mỗi một thời kỳ văn học, các nhà văn nhà thơ đều cho độc giả thấy được toàn cảnh về hiện thực đa chiều. Nó tác động lên độc giả những nhận thức đầy đủ phong phú về xã hội. Từ đó khơi dậy ý thức về giá trị con người hơn nữa. Nguyên Ngọc cũng từng khẳng định: “nghệ thuật là phương thức tồn tại của con người”. Có người lại quý văn chương ở sự đồng điệu tri âm: “Thơ ca giúp ta đi từ chân trời một người đến với chân trời triệu người”. Và Nguyễn Minh Châu lại có quan điểm khái quát hơn “Đời sống và văn học là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người”. Đúng là bằng tài năng của mình, mỗi người nghệ sĩ đã tạo nên những khám phá riêng đầy giá trị trên nền hiện thực xã hội. Song, họ chứng minh cho quy luật “chân lý nghệ thuật chỉ thống nhất chứ không đồng nhất với chân lý đời sống”. Mỗi người một vẻ, một sắc thái nhưng đã hòa cùng dòng chảy của văn học, mang đến những cảm nhận mới lạ, tinh tế, tác động mạnh mẽ tới tri giác, đánh thức những bản năng khát yêu, khát sống trong mỗi con người. Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Đăng Điệp đã khái quát lên được
giá trị, sứ mệnh của người cầm bút đối với tác phẩm và chính cá tính nghệ thuật của mình.

Nói tóm lại, “ Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”(Mác –xen Prut, nhà văn Pháp). Câu nói đã nhấn mạnh sức sáng tạo kỳ diệu của nhà văn có phong cách. Người cầm bút, không chỉ tái hiện lại những hiện thực khô khan mà phải truyền tải vào đó cái nhìn khách quan mới mẻ, mang tính khám phá về cuộc đời và con người. Đó là thiên sứ là trách nhiệm của người cầm bút trong việc sáng tạo nghệ thuật cần có. Đời sống và đời văn không dài, nhưng người nghệ sĩ chân chính sẽ biết đóng dấu ấn phong cách nghệ thuật trên từng trang viết để trường tồn cùng năm tháng, bất tử trong người yêu văn chương.

Chủ đề: Nghệ thuật bao giờ cũng la tiếng nói của tình cảm con người là sự tự giãi bày và gửi gắm tâm tưNhà thơ thanh thảo cho rằng thơ là chữ nghĩa cũng không là chữ nghĩaPhẩm chất của người nghệ sĩThơ đúng nghĩa là sự bộc lộ tận cùng của nhà thơThơ là lửa và sáng tác của nhà thơ là sự cháy lênVới tư cách là một hiện tượng nghệ thuật độc đáoVới tư cách là một hiện tượng nghệ thuật độc đáo giọng điệuVới tư cách là một người nghệ sĩ

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Trên khối đá từ ngữ anh bắt đầu đục đẽo những chữ tượng thanh, những chữ tượng hình
Bài văn học sinh giỏi

Trên khối đá từ ngữ anh bắt đầu đục đẽo những chữ tượng thanh, những chữ tượng hình

Thơ là nữ hoàng nghệ thuật
Bài văn học sinh giỏi

Thơ là nữ hoàng nghệ thuật

Nhà thơ chính là con ong hút nhụy từ những bông hoa của cuộc đời
Bài văn học sinh giỏi

Nhà thơ chính là con ong hút nhụy từ những bông hoa của cuộc đời

Những truyện ngắn hay thường gắn với thơ
Bài văn học sinh giỏi

Những truyện ngắn hay thường gắn với thơ

Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi cuộc sống
Bài văn học sinh giỏi

Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi cuộc sống

Đọc thơ là hành vi thân mật. Lắng nghe nhạc điệu của nhận thức, của lòng mình, là hành động trung tâm của việc đọc thơ
Bài văn học sinh giỏi

Đọc thơ là hành vi thân mật. Lắng nghe nhạc điệu của nhận thức, của lòng mình, là hành động trung tâm của việc đọc thơ

Bài viết mới
Thế nào là thơ? Đó không phải chỉ là nghệ thuật, đó là sự giải thoát của lòng tôi

Thế nào là thơ? Đó không phải chỉ là nghệ thuật, đó là sự giải thoát của lòng tôi

Lời gửi của văn nghệ là sự sống

Lời gửi của văn nghệ là sự sống

Mở bài, kết bài, phản biện, liên hệ mở rộng HSG

Mở bài, kết bài, phản biện, liên hệ mở rộng HSG

Thảo luận về bài viết này

TIP VIẾT VĂN HAY

Hướng dẫn trả lời hiệu quả các câu hỏi lí giải nguyên nhân trong Đọc hiểu

Hướng dẫn trả lời hiệu quả các câu hỏi lí giải nguyên nhân trong Đọc hiểu

Phân tích đoạn trích truyện “ Làm bạn với bầu trời” - Nguyễn Nhật Ánh

Phân tích đoạn trích truyện “ Làm bạn với bầu trời” – Nguyễn Nhật Ánh

Tuyển tập lý luận văn học về truyện hay cho bài làm văn

Tuyển tập lý luận văn học về truyện cực hay

4 công thức mở bài chiếm trọn trái tim người chấm

4 công thức mở bài chiếm trọn trái tim người chấm

Những nhận định hay về truyện ngắn và kinh nghiệm viết truyện ngắn

Những nhận định hay về truyện ngắn và kinh nghiệm viết truyện ngắn

Hình ảnh tà áo dài trong văn học

Hình ảnh tà áo dài trong văn học

Hướng dẫn chi tiết cách làm bài đọc hiểu thơ

Hướng dẫn chi tiết cách làm bài đọc hiểu thơ

8 cách chuyển đoạn cực hay khi phân tích thơ

8 cách chuyển đoạn cực hay khi phân tích thơ

Cách phân tích dẫn chững khi làm văn nghị luận văn học

Cách phân tích dẫn chứng khi làm văn nghị luận văn học

Tổng hợp các công thức mở bài nâng cao

Tổng hợp các công thức mở bài nâng cao

Khung cấu trúc hoàn chỉnh cho bài phân tích tác phẩm truyện

Khung cấu trúc hoàn chỉnh cho bài phân tích tác phẩm truyện

Bí mật của nghệ thuật kể chuyện: Các kiểu kết cấu trong tác phẩm tự sự

Bí mật của nghệ thuật kể chuyện: Các kiểu kết cấu trong tác phẩm tự sự

Các dạng đề viết đoạn văn cảm nhận về một bài thơ / đoạn thơ

Các dạng đề viết đoạn văn cảm nhận về một bài thơ / đoạn thơ

Phương pháp làm văn nghị luận cho mọi dạng đề

Phương pháp làm văn nghị luận cho mọi dạng đề

Đưa lí luận về thơ ca vào bài viết

Đưa lí luận về thơ ca vào bài viết

HocVan.edu.vn

"Văn học giống như ánh sáng, chỉ cần bạn sử dụng một cách thích hợp, nó có thể xuyên thấu mọi thứ."

  • Trang chủ
  • Học văn THCS
  • Học văn THPT

© 2025 hocvan.edu.vn | Design by wowwgame.com

Không tìm thấy
View All Result
  • Trang chủ
  • Học văn THCS
    • Học tốt Ngữ văn 6
    • Học tốt Ngữ văn 7
    • Học tốt Ngữ văn 8
    • Học tốt Ngữ văn 9
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi
  • Học văn THPT
    • Học tốt Ngữ văn 10
    • Học tốt Ngữ văn 11
    • Học tốt Ngữ văn 12
    • Học tốt Nghị luận văn học
    • Học tốt Nghị luận xã hội
    • Bài văn học sinh giỏi

© 2025 hocvan.edu.vn | Design by wowwgame.com

Welcome Back!

Login to your account below

Forgotten Password?

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In