Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư từng tâm sự: “Tôi bắt đầu tin văn chương cũng có lửa, làm tan chảy những bức tường thép mà mỗi người tự dựng lên; văn chương cũng là băng, gắn kết những ốc đảo người thành một khối; văn chương cũng là nước, dịu dàng mà mãnh liệt vượt qua những rào cản của lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ…” . Quả thực, văn chương chân chính không chỉ là sự phản ánh hiện thực khô khan mà còn mang trong mình một sức mạnh kỳ diệu, có thể chạm đến những góc khuất sâu thẳm nhất của tâm hồn con người. Truyện ngắn “Người gánh nước thuê” của Võ Thị Hảo chính là một minh chứng sống động cho nhận định sâu sắc ấy. Tác phẩm đã thực sự trở thành ngọn lửa, tảng băng và dòng nước, kết nối những số phận riêng lẻ, khơi dậy lòng trắc ẩn và vượt lên trên mọi rào cản để đến với trái tim bạn đọc.
“Văn chương cũng có lửa, làm tan chảy những bức tường thép mà mỗi người tự dựng lên”. “Lửa” ở đây không phải là thứ lửa vật chất hữu hình mà là ngọn lửa của cảm xúc, của lòng trắc ẩn, của sự thức tỉnh nhân tính. Trong đời sống, con người nhiều khi tự khoác lên mình những lớp vỏ lạnh lùng, vô cảm, dựng lên những “bức tường thép” của định kiến, của ích kỉ và thờ ơ. Chính văn chương, bằng sức mạnh cảm hóa sâu xa, có thể làm tan chảy những bức tường ấy, đánh thức phần người trong mỗi con người. Không chỉ vậy, “văn chương cũng là băng, gắn kết những ốc đảo người thành một khối” – nghĩa là văn học có khả năng nối liền những tâm hồn rời rạc, cô đơn, đưa con người xích lại gần nhau bằng sự đồng cảm và sẻ chia. Và hơn thế nữa, “văn chương cũng là nước, dịu dàng mà mãnh liệt vượt qua những rào cản của lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ” – văn chương là dòng chảy bất tận, len lỏi qua mọi biên giới hữu hình lẫn vô hình, kết nối con người ở mọi thời đại. Nhận định của Nguyễn Ngọc Tư vì thế không chỉ là một lời ca ngợi mà còn là một khẳng định sâu sắc về sứ mệnh nhân văn cao cả của văn học.
Từ bản chất ấy, có thể thấy văn chương không đơn thuần là sự mô phỏng đời sống. Nó là kết tinh của những rung động mãnh liệt, những trăn trở khôn nguôi của người nghệ sĩ trước cuộc đời. Nhà văn viết không chỉ để kể lại một câu chuyện, mà còn để gửi gắm một tiếng nói, một niềm đau, một khát vọng. Và người đọc, trong hành trình tiếp nhận, luôn mong tìm thấy ở đó một sự đồng điệu. Chính sự gặp gỡ ấy đã làm nên sức mạnh kết nối kỳ diệu của văn chương. Như Hoài Thanh từng nói, văn chương “gây cho ta những tình cảm ta chưa có, luyện những tình cảm ta sẵn có”, còn Maxim Gorky lại khẳng định “Văn học là nhân học”. Nghĩa là văn chương không chỉ phản ánh con người mà còn bồi đắp, thanh lọc và hoàn thiện con người. Trên hành trình ấy, văn chương đã làm cho “người gần người hơn”, như mong mỏi của Nam Cao.
Truyện ngắn “Người gánh nước thuê” của Võ Thị Hảo là một minh chứng cảm động cho sức mạnh ấy. Trước hết, tác phẩm chính là “ngọn lửa” làm tan chảy trái tim người đọc, khơi dậy lòng thương cảm sâu sắc đối với những phận người nhỏ bé, bất hạnh. Hình ảnh bà Diễm hiện lên với dáng người “bé loắt choắt”, khuôn mặt “nhăn nheo, gầy sạm”, chiếc lưng còng oằn xuống dưới gánh nước nặng trĩu như gánh cả cuộc đời. Bên cạnh bà là ông Tiếu với “ngàn vạn nếp nhăn”, đôi mắt đau khổ đông cứng và nụ cười nghịch lý như một vết thương không lành. Hai con người ấy đều mang trên mình dấu ấn của nghèo đói, cô độc và những mất mát không thể bù đắp. Họ sống bên lề xã hội, làm công việc nặng nhọc, bị khinh rẻ, nghi ngờ, thậm chí bị đem ra làm trò cười. Qua ngòi bút của Võ Thị Hảo, những chi tiết ấy không chỉ tái hiện hiện thực mà còn như những mũi nhọn chạm vào lòng người đọc, khiến ta không thể dửng dưng. Ta thấy xót xa, thấy day dứt, và chính trong những rung động ấy, “bức tường thép” của sự vô cảm bắt đầu rạn nứt.
Không dừng lại ở việc khơi gợi lòng thương, truyện còn thắp lên niềm tin vào vẻ đẹp của con người. Đó là ngọn lửa nhân ái âm thầm cháy trong những số phận tưởng chừng tàn lụi. Giữa cuộc đời đầy cay đắng, bà Diễm và ông Tiếu vẫn tìm thấy ở nhau một điểm tựa. Họ không cần những lời nói hoa mỹ, chỉ là những cử chỉ nhỏ bé: một lần nhấc hộ thùng nước, một nắm lạc rang cháy khét, một lời mời về chung sống trong túp lều nghèo. Nhưng chính những điều giản dị ấy lại chứa đựng một tình người sâu nặng. Đặc biệt, tình phụ tử của ông Tiếu dành cho đứa con gái mất tích đã trở thành điểm sáng cảm động của tác phẩm. Dù thời gian trôi qua, dù cuộc đời dập vùi, ông vẫn giữ chặt tấm ảnh của con, vẫn tin con còn sống và gửi gắm niềm tin ấy trong những lời trăng trối. Hình ảnh ông ra đi với nụ cười tắt lịm và hai giọt nước mắt “như được gạn từ đáy mắt” khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào. Và bà Diễm, người ở lại, đã tiếp nhận di nguyện ấy bằng tất cả sự tận tâm, như một sự tiếp nối của tình người. Tất cả những điều đó đã làm cho truyện trở thành một ngọn lửa ấm áp, soi sáng những góc tối của đời sống.
Không chỉ là “lửa”, “Người gánh nước thuê” còn là “băng”, gắn kết những “ốc đảo người” thành một khối. Qua trang văn, người đọc không chỉ đồng cảm với nhân vật mà còn gặp gỡ chính tâm hồn của nhà văn. Ta nhận ra phía sau giọng kể tưởng chừng khách quan, lạnh lùng là một trái tim nhạy cảm, đầy trắc ẩn. Võ Thị Hảo không lên án gay gắt, không bi lụy hóa nhân vật, nhưng từng chi tiết, từng hình ảnh đều thấm đẫm nỗi xót xa. Chính sự tinh tế ấy đã tạo nên một sợi dây vô hình nối kết người viết và người đọc. Và từ đó, những độc giả xa lạ cũng tìm thấy sự đồng điệu nơi nhau. Khi cùng xúc động trước cái chết của ông Tiếu, cùng day dứt trước nỗi cô đơn của bà Diễm, họ đã trở thành những “tâm hồn gặp gỡ” trong không gian văn chương.
Hơn thế nữa, truyện còn là “nước”, một dòng chảy vượt qua mọi rào cản để chạm đến trái tim con người. Dù câu chuyện gắn với một thời điểm, một không gian cụ thể, nhưng những vấn đề mà nó đặt ra lại mang tính phổ quát: sự nghèo đói, sự cô đơn, tình người, niềm hi vọng. Những điều ấy không bị giới hạn bởi thời gian hay văn hóa. Người đọc ở bất cứ đâu, bất cứ thời đại nào cũng có thể tìm thấy mình trong đó. Hình ảnh bà Diễm ôm chặt tấm ảnh và một trăm đồng bạc cũ, lẩm nhẩm lời hứa với người đã khuất, chính là biểu tượng cho sức sống bền bỉ của tình người. Nó khiến ta nhận ra rằng, dù cuộc đời có khắc nghiệt đến đâu, con người vẫn có thể níu giữ nhau bằng niềm tin và lòng yêu thương.
Thành công ấy của tác phẩm không thể tách rời những yếu tố nghệ thuật đặc sắc. Cách kể chuyện theo ngôi thứ ba tạo nên một khoảng cách cần thiết để người đọc tự suy ngẫm. Việc xây dựng nhân vật thông qua ngoại hình mang tính biểu tượng giúp khắc sâu ấn tượng về số phận. Giọng điệu trần thuật tưởng như lạnh lùng nhưng thực chất lại ẩn chứa nỗi đau kín đáo, khiến cảm xúc càng trở nên ám ảnh. Ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi, những chi tiết nhỏ mà ám ảnh lâu dài, tất cả đã góp phần làm nên sức mạnh “lửa”, “băng”, “nước” của tác phẩm.
Từ “Người gánh nước thuê”, ta càng nhận ra giá trị lớn lao của văn chương. Nhận định của Nguyễn Ngọc Tư là hoàn toàn xác đáng. Văn học chân chính không chỉ phản ánh đời sống mà còn hướng con người đến cái đẹp, cái thiện. Nó đòi hỏi ở người nghệ sĩ một trái tim nhạy cảm, một tấm lòng nhân ái và một tài năng nghệ thuật chân chính. Đồng thời, nó cũng đòi hỏi ở người đọc một sự tiếp nhận sâu sắc, chân thành. Chỉ khi đến với văn chương bằng cả trái tim, con người mới có thể cảm nhận được hết sức mạnh kỳ diệu của nó.
Khép lại trang truyện, hình ảnh bà Diễm vẫn lặng lẽ đi giữa cuộc đời, chiếc đòn gánh vẫn trĩu nặng, nhưng trong lòng người đọc đã nhen lên một điều gì đó ấm áp hơn. Có lẽ, đó chính là ngọn lửa của văn chương – ngọn lửa làm tan chảy những bức tường vô cảm, kết nối những tâm hồn cô đơn và chảy mãi, âm thầm mà mãnh liệt, trong dòng chảy bất tận của nhân loại.
——
Người gánh nước thuê (Võ Thị Hảo)
Chẳng ai biết lai lịch của bà, chỉ biết tên bà là Diễm. Diễm là đẹp, là diễm lệ. Ngoài vẻ đẹp, còn mang vẻ sang. Có ai gọi một củ khoai là diễm lệ đâu. Hẳn bố mẹ xưa đặt tên cho con cũng thầm ao ước sao cho con vừa đẹp lại vừa khỏi lầm than. Nhưng trông bà cả một sự nhạo báng cái mong ước đó.
Dáng người bà Diễm bé loắt choắt, bộ mặt nhăn nheo, gầy sạm chỉ còn hai con mắt. Bà vừa đi vừa lắc lư cái lưng còng. Chiếc đòn gánh không bao giờ rời khỏi đôi vai còm cõi của bà. Nó bám chặt lấy bà như một thứ nghiệp chướng. Chiếc đòn gánh của bà cũng thật đặc biệt. Nó nhẵn bóng. Ngay cả những vết sẹo cũng đã nhẵn bóng và cũng khó đoán tuổi như chủ nhân của nó vậy. Nó đã tồn tại cùng bà không biết tự bao giờ. Nó được đẽo gọt từ một thân tre cong hằn dấu vết của những cơn gió táp và ra đời chỉ để đón đợi đôi vai còm cõi của bà Diễm mà thôi. Nó và chủ nhân của nó hợp thành một chỉnh thể của sự bất hạnh, hợp thành biểu tượng của một thân cây vừa mới ra đời đã bị gió mưa vùi dập. Cuối hai đầu đòn gánh là đôi thùng đầy nước lắc lư theo những bước chân không đều của bà Diễm và để lại những vệt nước rỏ ròng ròng như suối nước mắt cạnh đường đi. Những lúc đôi vai được rảnh rang, đôi môi bà lại lẩm nhẩm những câu không đầu không cuối. Bà đi và nói như người lẩn thẩn, nhưng những cử chỉ của bà vẫn chính xác một cách kỳ lạ. Đến máy nước bao giờ bà cũng đi sát mép đường bên phải và lặng lẽ đợi đến lượt mình, không xin xỏ, không tranh giành.
Những nhà có máu mặt trong khu này thuê bà gánh nước. Họ chẳng ưa gì bà. Họ săm soi xem thùng nước bà gánh về có trong không. Có đáng đồng tiền của họ bỏ ra không. Có người nghi ngờ, bắt bà tháo cả bể nước đầy ra gánh lại, lấy cớ là bà đã lấy nước bẩn vào bể của họ. Cũng có những người trả tiền sòng phẳng, hậu hĩ là khác nhưng họ đưa tiền cho bà rồi vội quay đi như chỉ sợ dềnh dàng bà nhỡ mồm bắt chuyện thì mất cả thì giờ và mất cả thể diện nữa. Con người ta thường hay chối bỏ quá khứ, nếu quá khứ đó là không vẻ vang. Người đời nay coi nó là bệnh “sĩ”. Nếu như những năm sáu mươi của thế kỷ này người ta cố chứng minh rằng gốc gác của mình là bần cố nông thì trong những năm tám mươi người ta lại cố khoe rằng nhà mình giàu có ra sao, bịa cả những chuyện đài các rởm không biết ngượng mồm. Thôi thì cũng chẳng trách họ, âu cũng là do cách nhìn người của thời đại mà ra. Những bộ mặt đần độn trát bự son phấn vênh váo, đầy kiêu hãnh giả tạo. Và trong cơn mơ đài các sang giàu của họ, bà Diễm chỉ là một kẻ làm thuê, một người gánh nước cho nhà họ. Một thời, chúng ta đã ghê tởm những từ “con ở”, “đầy tớ”, “gái điếm”… Nhưng giờ đây, những từ đó đã và đang lặng lẽ trở về nhắc nhở người ta rằng, chúng có mặt trên đời này.
Vậy là bà Diễm hệt như con gà trụi lông giữa đàn công sặc sỡ. Nhưng bà gắn bó với họ, đúng hơn là với bể nước nhà họ, vì chỉ có họ mới đủ sức thuê bà gánh nước. Còn đa số “người nhà nước” trong khu này chẳng ai đủ tiền để mà thuê, dù muốn giúp bà. Cơm ăn chẳng đủ, lấy đâu ra tiền mà thuê gánh nước. Đành phải xếp hàng dài dằng dặc, hoặc thức đến hai ba giờ sáng để lấy mấy thùng nước.
Với đôi thùng gánh nước, cứ thế, bà Diễm đi trong đời như kẻ mộng du và rồi có lẽ với cung cách mộng du ấy bà sẽ lặng lẽ đi xuống mồ, như một hạt bụi tan biến vào không gian chẳng để lại một mảy may dấu vết.
Nhưng có một sự kiện khuấy động mảnh đời âm thầm ấy. Đó là sự xuất hiện của ông Tiếu. Thực ra những người gánh nước thuê không nhiều ở thời nay. Nhưng sự xuất hiện của ông Tiếu gắn liền với việc mở rộng con đường quốc lộ thành đường hai chiều. Ga mới mở. Những khu nhà cao tầng mọc lên như nấm và người đi lại nườm nượp trên con đường ấy. Hàng xa xỉ phẩm, hàng bán đồ ăn đồ nhậu mọc lên nhanh và nhiều vô kể. Và cần thêm người gánh nước thuê.
Từ đó cạnh máy nước, đôi khi bên bà Diễm có một người đàn ông chống đòn gánh đứng chờ thùng nước đầy dần. Hiếm có một khuôn mặt khắc khổ đến thế. Có đến ngàn vạn nếp nhăn trên khuôn mặt đó. Đôi mắt biểu lộ một nỗi đau khổ bất thường như đã đông cứng. Còn cái miệng thì trớ trêu làm sao, luôn mỉm một nụ cười bất biến, như nó được tạo ra trên khuôn mặt ấy từ lúc mới sinh ra và cứ phải giữ vậy cho đến lúc chết. Nụ cười ấy giữa khuôn mặt ấy, thật là một nghịch lý, như là đang khóc với một nỗi đau xé ruột, mà có một kẻ tàn ác nào đó cứ nhất định cù vào nách cho ta phải cười rũ ra mới thôi.
Việc hai con người khốn khổ đó bên nhau, cạnh máy nước làm bọn trẻ trai ngỗ ngược ở đây vô cùng khoái chí. Chúng gọi ông Tiếu là “bồ bà Diễm”. Người lớn lúc đầu còn mắng, sau nghe quen cười xòa vì thấy cũng ngồ ngộ, và người ta không gọi ông Tiếu bằng tên nữa, chỉ gọi ông Tiếu là “bồ bà Diễm”.
Thực tình hai con người cô đơn đó cũng thật may mắn khi họ bỗng nhiên có mặt bên nhau, với những thùng nước trĩu nặng trên vai. Cũng có những lúc ông Tiếu nhấc hộ bà Diễm hai thùng nước đầy ra rồi đặt một khoảng cách vừa tầm để bà Diễm chỉ cần móc xích vào gánh. Trong chiếc túi áo rách của ông Tiếu luôn có những hạt lạc rang cháy khét. Thỉnh thoảng ông dúi cho bọn trẻ con và cho bà Diễm. Bọn trẻ con không ăn, còn bà Diễm thì nhận lấy và nhẫn nại nhấm nháp những hạt lạc đen nhờ nhờ, đăng đắng, tỏ vẻ cảm kích lắm.
Một lần bà Diễm bị trượt chân ngã trẹo đầu gối, ông Tiếu vội dìu bà về túp lều của bà rồi lo cơm cháo thuốc thang. Thuốc chỉ có nắm lá láng hơ nóng, chườm bóp. Cơm sang lắm cũng chỉ miếng đậu luộc chấm mắm tôm.
Bà Diễm rưng rưng: “Vậy chứ nhà ông ở đâu?” Vẫn với nụ cười muôn thuở, ông Tiếu đáp: “Ở góc chợ Cầu Giấy”. “Vậy chứ lúc mưa gió ông làm sao?” “Thì nép dưới hiên của nhà nào đó cho qua”.
Bà Diễm khóc ròng: “Thôi, ông về đây mà ở cùng tôi. Tôi và ông cũng sắp xuống lỗ rồi, chắc chẳng ai dị nghị gì đâu. Ông ơi, hai cái cây đã bị đánh bật hết rễ, biết tựa vào nhau để đỡ đần thì sẽ lâu đổ hơn”.
Ông Tiếu nhìn xuống đầu ngón chân của mình, không nói gì, nhưng lần đầu tiên nụ cười hóa đá của ông biến mất. Rồi từ đó trong túp lều bên bờ ao, có hai bóng già lọ mọ sớm hôm. Bà Diễm cũng bớt lẩm nhẩm một mình.
Nhưng một hôm ông Tiếu phải trở về góc chợ cũ để tìm mấy cái quần áo rách và cái chăn cũ nát. Gió thu đã se sắt lạnh bên bờ ao. “Làng” của ông Tiếu, đó là góc chợ với đám người rách rưới lam lũ, lang thang không nhà do nhiều hoàn cảnh xui khiến nên. Họ bắc những viên gạch vỡ làm bếp, và lấy những mảnh báo cũ và ni lông rách treo lên làm buồng. Lâu không thấy ông, họ xúm lại hỏi ông đi đâu, ở đâu? Ông ấp úng. Họ càng trêu già, vì biết ông đang ở trong túp lều của bà Diễm. Một thằng lỏi con kiếm đâu ra cây gậy, lấy dây chuối buộc hai viên gạch vào hai đầu vờ làm thùng gánh nước rồi nhăn nhó, còng lưng làm bộ bà Diễm đang gánh nước cạnh ông Tiếu. Cả đám ré lên cười như hóa dại. Những người đi chợ thấy ồn ã cũng đứng lại xem. Được thể, chúng càng làm nhiều trò, diễn cảnh ông Tiếu chân thấp chân cao khoác tay bà Diễm đi chơi công viên. Mọi người tha hồ đắc chí. Chả mấy phen được bữa cười vỡ bụng như hôm nay. Rồi họ sẽ trở thành người kể chuyện có duyên nhất trần đời khi kể lại cho người khác nghe chuyện này. Chỉ có ông Tiếu là đứng lặng phắc không nói được câu nào. Lát sau, vứt lăn lóc bọc quần áo rách, ông lùi lũi trở về túp lều cạnh bờ ao của bà Diễm. Qua dãy nhà gánh nước thuê, vài đứa trẻ lêu lỏng thấy ông đã reo lên:
– A bồ bà Diễm. Đẹp đôi như Chí Phèo và Thị Nở ấy chúng mày ơi.
Về đến lều, ông nằm vật ra giường, không ăn uống. Hôm sau ông lên cơn sốt. Bà Diễm hết lòng săn sóc thuốc thang nhưng vô ích. Lúc sắp trút hơi thở cuối cùng, ông gọi bà đến bên, lần tay vào mụn vá lớn sát ngực lấy ra một tấm ảnh đã ố vàng và một trăm đồng bạc gói kỹ tự bao giờ trong túi ni lông. Trong ảnh là một bé gái tóc tơ xấp xõa, đôi mắt tròn đen mở to ngây thơ. Ông Tiếu thều thào:
– Con tôi đấy bà ạ… Nó bị mất tích trong một trận bom. Người ta bảo nó đã chết cùng với mẹ nó. Nếu thế tại sao chỉ tìm thấy xác mẹ nó thôi. Tôi tin nó vẫn còn sống, có thể nó lưu lạc ở phương nào. Lê con ơi…
Từ đôi mắt mờ đục của ông, hai giọt nước như được gạn từ đáy mắt, như những giọt thủy ngân khó nhọc lăn ra. Ông nức lên, nói đứt quãng:
– Bà ơi, nếu… có… một ngày… nào… đó bà thấy có một người con gái… trạc hai mươi… mà giống con… bé trong ảnh này… bà nhớ gọi lại hỏi gốc gác… xem có phải bố nó là ông Tuyền ở xóm Đoài, xã Hoài Ân… không nhé. Và nếu phải… bà nói rằng bố nó vẫn chờ nó… cho đến chết… bà đưa cho nó một trăm đồng… bạc này…
Rồi ông thở hắt ra. Nụ cười oan nghiệt vĩnh viễn tắt trên đôi môi ông.
Bà Diễm ngồi lặng câm nhìn tấm ảnh và một trăm đồng bạc côi cút. Trăm bạc này, chắc ông đã ki cóp từ lâu lắm, khi nó còn mua được nửa chỉ vàng. Ốm đau đói rét bao phen, cũng không bao giờ dám đụng đến, để cho đến bây giờ, một trăm đồng bạc của ông dành cho con cũng chỉ đủ để mua một mớ rau muống…
Rồi mộ ông Tiếu cỏ xanh phủ dần, đám cỏ đuôi gà bò lan cả ra mặt đất bằng. Thỉnh thoảng bà Diễm thắp vài nén hương cho ông, lần nào bà cũng thầm thì khấn:
– “Ông Tiếu ơi, tôi vẫn để ý tìm con cho ông mà đâu thấy. Tôi tìm cả khi chờ thùng nước đầy, cả khi đang gánh nước, ngày này qua ngày khác. Ờ, nếu nó còn sống thì tôi cũng chẳng còn mấy thời giờ nữa để làm việc đó cho ông. Tôi cũng sắp theo ông về với đất rồi đây. Nhưng mãi đến tận lúc này, tôi vẫn tin có thể chốc nữa, có thể tối nay, ngày mai, con bé đến và hỏi, giọng nó trong veo: “Có phải ông Tuyền cha cháu ở đây không?…”.
Người ta bảo nhau rằng, dạo này bà Diễm càng dở hơi tệ, bởi vì ngoài cái tật cứ nói lẩm bẩm một mình, trong tay bà không bao giờ rời cái gói nhỏ bọc vải nhựa đã cũ mèm, chẳng khác mụ phù thủy đang giữ chặt bùa phép duy nhất giúp cho bà còn sống trên đời này. Có ai biết rằng cái bùa phép đó là tấm ảnh một bé gái đã ố vàng và một trăm đồng bạc cũ. Đằng sau tấm ảnh, một dòng chữ mới viết xiên xẹo đầy lỗi chính tả: “Đây nà cháu Nê, con ông Tuyền ở xóm Đoài, xã Hoài Ân… một trăm đồng bạc lày nà của cháu!”.

























Thảo luận về bài viết này